It started raining softly

Thursday, 27 December 2012 Posted by Rain

Today I did nothing at work. Not just today, it's been like that for at least 2 months. Of course I didn't sit still , I occupied myself with various tasks I made up. Just small and irrelevant tasks, which I would be much happier to do at home. I brought my kindle (my boyfriend's kindle, to be exact) along to read a history textbook.

I met a friend by the end of the workday and started complaining to her how bored I was. I could literally sense my mind going more and more dull day by day, enclosing myself in 4 walls, sitting in front of a computer screen, doing nothing (work-related), learning nothing. When I look around, people are always talking about each other, about "plans" and "stories", some things are real and some things happen between their imagination and somewhere along the entangled paths and trails of gossips. Everyone smile at each other, but just a second later, a meaningful wink forms itself on a face. Sometimes I feel like I were back in high school, not a mature adult workplace. And the talk about drinking has never subsided. Drinking is an essential skill nowadays, someone said, and claimed that they would train their children to drink in young age, "so that they can cope later". I said nothing. I hate it. The pressure on being "social" is ever present. Simply observing people's ingenuity towards each other drains my energy out.

My friend advised me to quit the job. I had promised myself unless I am fired, I would not quit, I will grit my teeth and make sure I stay on this job for at least a year. I have quit too many jobs already.

After that I joined a farewell party for a friend of mine, who is going abroad for her master studies, with her colleagues. I knew some of them, and met some for the first time. Yet I was comfortable with them, and comfortable being myself there. I didn't talk much, but no one inquires "why are you so quiet? you need to talk more". It wasn't that they are young, or open-minded. I guess they really respect and appreciate each other. And good emotions spread.

I could laugh with them, even though I didn't share their inside jokes. I could feel a sincere and tender breeze of love and care. No one forced me to drink, and there was lots of honest sharing. I talked about faith with one lady, and on the next table someone talked about raising babies, and yet some others were telling each other about her excitement about an upcoming travel. I spent only a few hours with them, but I was re-energized. It was like almost a surge of human connection enveloping me, and brought me back to life.

On the way home, I thought about people I love. I made plans to send emails to them just to let them know I love them. I mentally danced with an upbeat tune. I imagined myself buying gifts for some friends. I wanted to write. All of sudden, I realized I haven't felt so comfortable around strangers for so long. So long that I didn't happen to be aware of that state of being I was in. It was happiness.

"Why is it so? Why is it so difficult to find a workplace where I can be myself and loved for who I am?" I missed my days at my first job, when I could sit cross-leg on a bed with a cup of tea and discussed everything on Earth that came to mind at that very moment with the team. In fact, I shed some tears. It started raining softly. My spectacles became blurred with raindrops. I didn't know whether I was crying because I had some happy moments at the dinner, or because I was mourning for a past that never comes back, or because tomorrow I will return to alienation.

Đi xa

Wednesday, 26 December 2012 Posted by Rain

Đi xa có thể là đi du lịch, đi chơi, đi học, đi công tác, miễn là rời khỏi nơi quen thuộc để đến một vùng đất lạ.

Bạn vốn là đứa sợ sự thay đổi. Bạn rất khó yêu, nhất là với những gì không quen thuộc. Bạn hầu như chẳng bao giờ háo hức với cái mới hay thích khám phá những điều bí ẩn. Tất cả những điều ấy cộng lại khiến cho bạn là một đứa thích ôm những cái xưa cũ và luôn có xu hướng thấy quá khứ đẹp hơn hiện tại. Bạn chỉ cảm thấy an toàn, và dần dần yêu thích, khi đã thật quen với một nơi chốn. Bàn chân phải biết ngã rẽ trước mặt sẽ dẫn về đâu, đôi mắt phải nhận ra người đang ngồi ở mé hiên nhà đối diện, thì bạn mới thấy tình yêu nhen nhúm được chút chút. Vì thế mỗi khi được hỏi "thích đi du lịch ở đâu?", bạn thường ớ ra bởi vì thật sự chẳng có chỗ nào bạn khát khao được đến.

Nhưng đi xa, như người ta nói, giống như một chất gây nghiện, ban đầu sẽ nôn nao, sẽ khó chịu, nhưng một khi đã ngấm thì thiếu nó sẽ bứt rứt khó chịu.

Bạn thích cái cảm giác có một khoảng thời gian nhất định, có thể là một hoặc vài tuần khi bạn làm một chuyến du lịch tới  một chỗ nào đó chưa được đặt chân, và thấy mình thoát khỏi mọi trách nhiệm, mọi thói quen, mọi ràng buộc của cuộc sống bình thường. Ở chỗ lạ đó, không ai biết bạn là ai, không ai trông đợi rằng bạn sẽ làm việc này việc nọ, và bỗng dưng, cả một ngày dài bạn được tự quyết định sẽ đi đâu làm gì ăn gì. Trong khoảng thời gian đó, bạn không phải lo nghĩ về quá khứ, tương lai, về những điều đã qua và sắp tới. Bạn cố gắng mở hết các giác quan, và viện trợ đến cả các công cụ bên ngoài như máy ảnh, máy ghi âm để cuống quýt ghi lại từng khoảnh khắc. Trong chừng mực nào đó, việc rũ bỏ mọi ưu tư, và chỉ sống trong hiện tại, rất giống với một khía cạnh của Thiền Định. Và cũng như trạng thái tĩnh lặng của tâm trí khi đã gạt bỏ những dòng suy tưởng cuồn cuộn, những phút ngồi im trên ô tô và để cho cảnh vật lao qua trước mắt, hay một giây cúi đầu ở giữa những cảnh vật, con người, và lối sống khác, bạn nhìn sâu vào cái tôi của mình, và khiêm tốn nhấm nháp một sự thật bạn đã biết từ lâu, rằng có nhiều cách khác, chân lý khác, nhân sinh quan và vũ trụ khác, để sống làm người trong cõi đời, nhưng vốn từ "biết" đến "hiểu" nhiều khi là một khoảng cách mênh mang của trải nghiệm và vốn sống.

Đi xa, cũng là lúc phải học cách tin tưởng, và cách thả trôi bản thân khỏi giới hạn an toàn. Không có chuyến đi nào, nhất là những chuyến chu du tùy hứng, có thể đặt kế hoạch đến chân tơ kẽ tóc. Cho dù có chuẩn bị kĩ càng đến bao nhiêu, sẽ có lúc bạn kéo vali lếch thếch trên đường lúc 2h đêm, có lúc bạn lỡ xe và phải vạ vật trong những giờ chạng vạng ở một bến xe khách lộn xộn, sẽ có lúc bạn đứng một mình dưới cơn mưa tầm tã và không biết phải đi đâu tiếp. Và hệ quả của những sự lỡ bước và không biết ấy là bạn phải chặc lưỡi tin một anh lái taxi sẽ chỉ cho mình một chỗ ngủ rẻ và an toàn, tin một anh hướng dẫn viên cho bạn đi nhờ xe từ ruộng đồng về thành phố, tin lời chỉ đường của bác xe ôm, tin cái khoát tay của bà bán nước. Đi xa và đặt mình vào vị trí của sự bơ vơ, có những lúc, chẳng còn cách nào khác, bạn buộc phải chấp nhận việc nhắm mắt đưa chân, đi theo sự sắp xếp của vô số những ngẫu nhiên và tình cờ. Và sự hấp dẫn là ở đó, khi người lữ khách không biết những điều gì sẽ xảy ra, không thể chắc chắn vào bất kì sự dàn xếp nào, ngoài một niềm tin sắt đá rằng mọi việc rồi sẽ ổn. Và tất nhiên cả sự hài lòng sau đó, rằng niềm tin của mình vẫn đúng.

Khi bạn bứt mình ra khỏi vùng an toàn quen thuộc, và ném mình vào những lộn xộn và hoang mang của điều không biết, bạn cũng tự giao phó mình cho sự giúp đỡ của những người xa lạ. Bạn chưa bao giờ hết ngạc nhiên với những người không quen biết, đã bằng cách này hay cách khác hỗ trợ bạn, mặc dù không có lý do gì và mong chờ bạn sẽ đáp lại sự hết lòng của họ. Như bạn gái  ở Phan Thiết chỉ quen biết từ phi vụ mặc cả phòng nghỉ, đã cất công dậy sớm đưa bạn đi ăn sáng, và sau giờ làm không quản gió rét đi cùng bạn vòng quanh thành phố để đến những chỗ vui chơi. Ở Peterborough, bạn đã được chào đón và yêu thương như người nhà bởi những người chẳng duyên nợ, và hầu như chẳng biết gì về đất nước, văn hóa, hay vị trí địa lý của quê hương bạn. Bạn được dạy đi dạy lại về sự nhân từ của con người, và lòng hào hiệp họ có thể gọi ra khi dang tay giup đỡ một đồng loại. Bài học ấy giúp bạn sống tử tế hơn, bởi vì chẳng có ai nhận lòng tốt của người khác mà không được lây một chút tốt đep lên tâm hồn mình.

Dĩ nhiên đi rồi phải về. Những chuyến đi làm mới tình yêu của bạn với thành phố mà bạn gắn bó. Nếu không đi, tình yêu ấy dần mòn rỉ, từ cảm xúc chuyển thành một thói quen, và từ thói quen đến sự nhàm chán rất gần. Mỗi lần từ đâu đó về, bạn lại khám phá ra một điều mới mà bạn nên trân trọng. Như một cây phượng bé tí mà đỏ rực ở đường Nghi Tàm khi bạn từ Thái Nguyên về. Như cái lạnh buốt của ngày chớm đông khi bạn từ Sài Gòn về. Như cơn mưa rớt bão quăng quật trên những nóc nhà cao tầng khi bạn từ Nghệ An về. Giường ở khách sạn xịn hơn, đệm êm hơn, nhưng không ở đâu có cái gối thấp tẹt như cái gối ông nhồi bông và khâu cho ở nhà. Bởi vì chỉ có duy nhất một nơi chốn được dùng với từ "về", còn các nơi khác dùng từ "tới", nên bóc tách ra, bạn nhận ra rằng, bạn không yêu cái chốn đấy vì bản thân nó, mà vì những điều đã xảy ra giữa hai bên, và nó chứa đựng một phần cuộc đời và kí ức của bạn. Nhưng tất cả những điều ấy bạn sẽ không nhận ra, và khi nhận ra rồi cũng sẽ quên, nếu không được nhắc bởi những chuyến đi đến nơi khác, với nhận thức rất rõ ràng rằng, mình cũng có thể yêu những nơi kia dào dạt bằng, hoặc thậm chí hơn, nhưng không vì thế mà sẽ bớt yêu cái chốn bụi bặm và đông đúc này. Không những thế, tình yêu sẽ lớn thêm lên.

Không quan trọng là đi đâu, vì mảnh đất nào cũng có những câu chuyện thú vị đợt bạn đến để kể, hoặc những trải nghiệm thú vị đợi bạn đến để diễn ra, mà chỉ riêng hành động dịch chuyển từ nơi quen thuộc đến nơi xa lạ, tự nó đã là một sự đổi mới.

Như bây giờ, trong một ngày âm u mưa phùn bay lất phất, bạn lại đang rất nhớ cảm giác lạc lõng bơ vơ khi lần đầu đặt chân đến một thành phố lạ nắng phủ đầy vai.

2012

Sunday, 23 December 2012 Posted by Rain

Tình hình là mới ngồi kiểm kê lại tình hình tài chính của năm 2012 và mình vô cùng hài lòng về mức độ thu chi của bản thân. Hôm nay người yêu lại nhắn cho cái tin đại loại nhớ em yêu em tràn trề. Lúc tối vì cô Minh về quê chăm mẹ ốm nên mình rửa bát, bác Mai quét nhà và mẹ rang tôm để sẵn cho ngày mai, Bi bèo đổ rác, thấy không khí mới đầm ấm làm sao. Cả nhà vừa làm vừa nói chuyện vừa bình luận thời sự và tin thời tiết, tốt  hơn nhiều mọi khi ăn cơm xong là mình ngồi phịch xuống trước màn hình laptop. Hôm qua gặp nhóm các cô nương trăn trở về tình yêu và liêu xiêu về tiền bạc, ngồi cười ha ha với nhau, đi về thấy thật nhẹ nhõm. Có vẻ như đời cứ thế là không có gì phải buồn.

Năm nay công việc nhảy chồm chồm như đi xe Cup ở đường nhiều ổ gà. Mặc dù nạn chuyển việc chán việc đau khổ vì công việc là nỗi niềm chung của các bạn trẻ lận đận tìm con đường đi của mình trong vòng 5 năm sau khi ra trường, nhưng mình đã tiến hóa từ chỗ phẫn uất với một công việc "không thú vị" đến chấp nhận một công việc "chẳng có gì để làm". Tổng số các cơ quan tổ chức trả lương cho mình từ đầu năm đến giờ là 11 (vẫn có cảm giác hình như còn bỏ sót một vài chú đâu đây), trong đó có 2 chỗ là viết đơn xin thôi việc, 3 chỗ là hợp đồng ngắn hạn làm xong là thôi, một chỗ làm online bị cho nghỉ việc, và những chỗ còn lại là làm khi nào có việc. Hầu như chín tháng đầu năm dành để đi xin việc và làm quen với công việc. Có hai giai đoạn ở nhà chơi dài không xin được việc và bắt đầu sốt ruột nghĩ quẩn. Từ chối lời mời làm việc ở một vài chỗ khác. Thế nên năm nay trong đầu mình phần lớn chỉ toàn các trăn trở vật vã và các thể loại cảm xúc dính líu đến công việc.

Công việc hiện tại của mình khá nhàm chán, và mang tính thời vụ cao, tuy nhiên ưu điểm là có nhiều tự do. Một năm đi xuống địa bàn thu thập dữ liệu khoảng 4 lần, mỗi lần từ 1 đến 3 tuần, nhưng ngoài những thời gian đó và một vài tuần trước và sau đó thì hầu như chẳng có gì để làm. Rất may là những khoảng thời gian đó mình thích làm gì thì làm, và ở trong một văn phòng chỉ có 3 người (kể cả mình), cũng chẳng có luật lệ gì hà khắc. Không phải làm nhiều, đến muộn về sớm xin nghỉ phép dễ dàng, ngồi trong khuôn viên bảo tàng như công viên nhỏ, thích thì đi bộ một vài vòng hít thở khí trời, cơm trưa không phải mang, tiền lương trả đúng hạn, thiết nghĩ, ngoài điểm trừ là không được làm việc, ở cạnh những người ung dung và có tính tập thể cao (tức là giống chúng tôi thì sống, chống chúng tôi thì chết) và không được học hỏi, do đó không có khả năng tiến bộ ra, không có gì phải kêu ca. Nhưng ở thời kì gặp đứa bạn nào cũng được nghe về những nỗi khổ nơi công sở, mình tự biết bản thân đang khá may mắn.

Năm nay cũng đi được khá nhiều. Những chuyến đi Sóc Sơn và Hòa Bình cuối cùng trong sự nghiệp làm cán bộ tài chính vi mô cùng Bloom và hai tháng lê lết cuối cùng với quyết định chấm dứt một tình yêu với nơi làm việc chính thức đầu tiên, chỉ trước đó mấy tháng còn rất mãnh liệt. Nối tiếp đó là 2 chuyến đi Lào Cai và Điện Biên với Học bổng Gạo tháng 2 và tháng 3. Chớm hè là một loạt các tỉnh Thái Nguyên, Đắc Lak, Quảng Trị, Điện Biên cùng với MCNV (gọi là đi nhiều nhưng thật ra ở các tỉnh đó cũng chỉ lê thân từ khách sạn đến nơi tổ chức tập huấn, xong đợt là tất tưởi đi về, chẳng được thăm thú thắng cảnh gì). Giữa năm đi Thailand với gia đình, nhưng đi tour nên chỉ nhớ ấn tượng về việc những con thú bị ép làm giống người, và chỉ khi chúng bắt chước người (khỉ đấm bốc, heo làm tính, hải cẩu vỗ tay) thì mới được cho là đáng xem, và việc những khu du lịch đại trà ở Thái toàn là nhân tạo, vì đến cả vườn thú cũng được ghép từ các chậu cây rời. Tháng 10 được đi Nghệ An 2 tuần, ở trong nhà anh trưởng bản và đêm đêm chui vào màn từ 8h và đến 9h đã nằm mơ được tắm nước nóng phun ra từ vòi hoa sen. Cuối năm đi Phan Thiết và Sài Gòn với Trang, rất đúng tinh thần ngon bổ rẻ của những người trẻ, "lại đi lại đi trời xanh thêm". Bầu trời ở Phan Thiết xanh, sâu và mây trắng xốp, đẹp đến ngơ ngẩn.

Đầu năm lao vào nộp đơn xin học bổng hùng hục. Bắt đầu là hồ sơ gửi đến trường ANU của Úc, rồi một loạt Chevening, Fullbright, ADS, Endeavour cứ thế kéo nhau. Mỗi lần nộp hồ sơ lại phải viết email cho hai thầy cô giáo ở Trent để xin thư giới thiệu, xin rồi mấy tháng sau lại thông báo "trượt rồi". Nhưng cứ phải lao vào viết "động lực thúc đẩy", và nghĩ thật kĩ thật sâu về điều mình thích, muốn, và có thể làm được, cũng vỡ vạc được ít nhiều về bản thân mình. Câu hỏi "mình muốn đi học vì muốn thế, hay vì đấy là con đường phổ biến và dễ được công nhận?" cứ thong thả diễu qua như con muỗi veo véo lượn bên tai trong đêm, bực mình và muốn đập chết nhưng không được. Trước khi đi học đại học, mình đã từng tưởng tượng sẽ được ngưỡng mộ như thế nào, để rồi nhận ra là mình không thích nói với người mới gặp mình học ở nước ngoài, để nhận lại phản ứng theo kiểu "chắc hẳn nó phải giàu hoặc phải giỏi lắm", cả hai điều đều không đúng sự thật. Bây giờ lại phân vân không biết mình có muốn đi học chỉ vì mình cần một lối thoát tạm thời khỏi cái vòng quay đi ngủ lúc 11h đêm thức dậy lúc 7h sáng, đứng lên đi về lúc 5h chiều hay không. Cái vòng quay ấy không đến nỗi vắt kiệt cảm xúc hay năng lượng, nhưng nó làm mình trơ lỳ ra, và hình như tuột mất rất nhiều thôi thúc, đơn giản như việc viết ra những suy nghĩ của mình. Khi mình bắt đầu thấy quen với việc ngồi văn phòng ngày 8 tiếng, mình bớt thấy khó chịu với sự nhàm chán và bó buộc, nhưng cũng thấy mất mát nguồn năng lượng nội tại mỗi khi tích tụ có thể giúp những dòng chữ bật ra. Hình như cái mong mỏi được chia sẻ và giãy bày chỉ đến từ sự cô đơn, nên đôi khi nheo mắt tránh người trên đường mình nhớ một buổi sáng thức dậy và nằm ườn trên giường để ngắm vết nắng trườn qua cửa sổ và dưỡn dẹo nghĩ vần làm thơ. Bây giờ cảm giác suy nghĩ vón cục lại, tức anh ách bên trong, nặng nề và muốn trút lắm, nhưng như người bị táo bón, không thể.

Những nơi tình nguyện mình tham gia năm nay, hoặc mình là người trẻ nhất như trong Học bổng Gạo, hoặc là người già nhất như trong CLB Ca trù HN. Chắc những người khác bằng tuổi mình còn đang phải vật lộn miếng cơm manh áo, hoặc xây dựng gia đình. Mình vẫn chưa hết ngơ ngác mỗi khi biết có một người bạn lấy chồng lấy vợ, vì mình không hiểu được quyết định ấy. Tại sao lúc mình đi học nó cũng đi học, lúc mình đi làm nó cũng đi làm, thế mà bây giờ khi nó hăm hở bước sang một giai đoạn mới của cuộc đời, trở thành những người đàn ông và những người phụ nữ đứng đắn và có trách nhiệm, mình lại không thẩm thấu được và không hình dung được logic đằng sau câu chuyện hết sức bình thường ấy? Và mình tiếp tục hoang mang, giống như nhìn thấy từng người thân nhảy lên những chuyến tàu lao vun vút về phía trước, nhưng mình thì không hiểu nổi tại sao họ lại phải nhảy.

Còn tình yêu, cũng đã đến giai đoạn không biết đi chơi đâu không biết nói với nhau câu chuyện gì. Nhưng bù lại, mình tự nhận thấy cả hai đã tự thay đổi để thích ứng với người kia, nên hầu như không còn mâu thuẫn gì nữa. Gặp nhau tuần một hai lần, không còn tỉ tê nói chuyện điện thoại, tin nhắn cũng mang tính chất thông tin nhiều hơn bày tỏ tình cảm. Nhưng được cái thoải mái, không phải dè chừng, suy tính, luận giải, chàng nói thế là có ý gì, mình hành động thế này có ghi điểm trong mắt chàng không. Dạo gần đây mình ngẫm nghĩ ra, có những người mình yêu quý vì họ khiến cho mình cảm thấy mình lớn hơn bản thân trong hiện tại, có nghĩa là chỉ ra các tiềm năng, đặt ra các niềm tin, có những người lại làm mình thấy nhỏ bé đi, vì rằng còn quá nhiều thứ để học, để khám phá, để làm, để yêu. Còn người yêu của mình khiến mình thấy nhẹ nhõm với chính mình trong ngay giây phút ấy, không to ra không bé đi, có sao cứ như vậy, và biết mình được yêu cho dù mình vụng, thiếu suy nghĩ, và hơi ích kỉ. Đạt được sự thoải mái ấy giữa hai con người, xuất phát điểm là người lạ, kể ra cũng kì diệu.

Những điều này mình đã nghĩ và đã nói cả rồi, chỉ là viết lại để sau này quên mất tại sao năm 2012 lại được đồn ầm lên là có tận thế thì sẽ lôi ra đọc lại thôi.

When the religious goes popular

Friday, 16 November 2012 Posted by Rain


The French cultural center (L'espace) was packed that night. Old and young, local and expats, frantic believers and purely curious outstander alike filled the hall to its fullest capacity. Some contemporary artists would be jealous with the flow of audiences. Even after the show had begun, more people continued to rush in past the door and ended up standing in a cluster by one end of the room or spreading themselves along the wall. Yet it was not a pop, rock, jazz, or electronic music show. It was not even pure music to begin with. On stage there was a meticulous reproduction of a temple. Candle light flickered as if the wind blew through, incense's fragrance lingered about all corners. One session of medium worship was about to begin, but this time it was on stage, and everything was prepared for the gaze of an audience from all different background, but mostly educated  middle class. The medium, a short hair woman in her late 40s, has probably never before in her life performed in front of hundreds of people. She started swaying as the music began, shaking her body vigorously to signify that the spirit of a deity she summoned was entering her. But this time, I wonder how much of that was real manifestation of communicative channel between the two worlds, and how much is a recited move of the same performance she has given many times in her profession as an agent of the religious realm.

"Chầu văn" is a style of singing and dancing accompanying mediumship, in which a medium would dance along the music according to whichever deity s/he is possessed with at that moment. She or he imitates behaviours of heros, state officials, young girls or a benevolent Mother Goddess. This is a highly staged form of worshiping, in which both the medium (i.e. main actor/actress) and the believers (i.e. audience) know their roles and act accordingly. For example, when the deity is a young girl who loves teasing people and being praised for her beauty, the medium walks joyful steps, fixs hair in the mirro, and believers sitting around must chirp up compliments on her beauty sincerely, for when she is flattered and pleased, she will reward people with lots of blessings, or even wealth. The medium holds in her/his hands few bunches of small changes, and throw that out for everyone to catch.

In the old days, this indigenous form of religion with many beliefs and little doctrine occupied a great proportion of the Vietnamese spiritual life. Men and especially women found comfort in the fact that they could communicate with powerful spirits and could ask for their blessings. These Gods and Goddesses are responsive, and as long as one complies to some general rules for good behaviours and frequently participates in worshiping (which can be costly for comprehensive and extravagant offerings), one and one's family should be blessed with good health and good fortune. In fact, even though Confucianism and Buddhism are believed to exercise heavy influence on the Vietnamese culture, they are both sophisticated sets of ideas and philosophy, which require certain level of education and mediation to fully comprehend and practice. On the contrary, mediumship places more emphasis on faith than rationality, so it is not surprising that this form of religious practice was embraced more enthusiastically by a population overwhelmed with farmers who possessed little formal education yet engaged in a colourful and enriched system of folk beliefs.

In the latter half of the 20th century, the government fiercely controlled mediumship, labeling it "superstitious remnants of feudalism" along with some other age-old customs. Many home-based temples were eradicated and the practice was officially and actively banned all over the country. However, the cult lives on, and by the beginning of the 21st century, actually thrives with assistance and funding from some foreign cultural centers such as L'espace. Researchers begin to focus on this practice not only with a more positive tone but actually associate it with "the soul of the nation" "the most original form of religious beliefs". Moreover, "chầu văn" the singing itself, rather than practice of mediumship, is being proposed to be recognized by UNESCO as cultural heritage.

Facts aside, as I stood against the wall during the performance that night (because I didn't come early enough to reserve a seat), I couldn't help but wondering how many people considered themselves attending a sacred ritual and how many attending a colourful performance. The younger audience like myself, who didn't grow up immersed in stories of local heroes and princesses, were more likely to view the woman in splendid outfit dancing on stage as a performer, while the older ones seemed to be more engaged with the religious side of it. Nevertheless, I couldn't remove myself from the position of an indifferent watcher, yet at the same time, I know I should also be, if not a believer, at least a participant in the ritual. My mind told me so, but my heart didn't stir with any emotion I knew a true believer might be feeling. When the religious goes popular, when a scared ritual is performed on stage, when believers pay to participate, then who I am to know what is being created?

Friday rambling

Posted by Rain

Recently almost every new person I've met told me I look like someone they know. Yesterday, when I talked to an old couple at the bus stop, they said I look similar to a neighbour's niece. Last week, a lady exclaimed that I very much resemble her male cousin (what?). I didn't think about it at first, but this kind of comment starts catching my attention when it happens again and again in a short period of time. Then it dawned on me last night, is it possible that as I collect many life stories, I slowly develop within myself many features from different people, but in the end, I will look like no one?

It's 1.5 year after my returning to Vietnam, and it seems only until now do I feel fully integrated into the society around me. By integration I mean a network I have successfully rebuilt after 4 years being away. I can easily fill my weekends with meeting with friends, attending social events and other activities. A good network means when I need to go shopping or check out a new restaurant, I have friends who I can ask to join me. I no longer get irritated with people's attitude when they ask about my income or my decision not to stay in Canada. People also stop being curious and outwardly obtrusive when it comes to my personal life. I have a boyfriend and I know his family. In other words, I am socially and emotionally secured. It takes me 1.5 year to achieve that.

Besides a full-time job, I am volunteering for 4 groups, and thinking of taking up one more part-time job and various free-lance commitments. The thing I love about these volunteer works is they allow me to participate in growth and the process of growing. With Hagar, an international NGO working with trafficked and abused women and girls, I am assigned to work with a 15 years old girl who was trafficked to China. Basically, I act as a "big sister" by meeting her every weekend, taking her out, exposing her to different groups of people, and hopefully she will gradually feel connected and confident in herself. In the Ha Noi ca tru club, I MC one performance per week, and help them get their name to the online community, especially English-speaking population of tourists and travellers. In addition to these two rather fixed volunteer work, I monitor the website and facebook page for the Rice scholarship program, which provides scholarships for poor students belonging to ethnic minority groups in mountainous provinces. Finally, there is a recently and informally formed group called "the gender talk", an initiative promoted by a local self-identified enthusiastic feminist and few expats working in gender field. I have joined this group for half a year now, and as the founder is going to study abroad soon, she expects that I will take over the organizing part after she leaves.

I have had a disturbing value crisis early this year, jumped through 4 organizations on my way to seek a fulfilling job, and ended up with a job I was very excited in the beginning but after one month was equally disappointed. There is nothing I hate about the job (except the drinking part), but I haven't found anything thrilling either. Yet, seems like 1.5 year has taught me one thing. No job will provide me with everything I want, good salary, opportunity to learn, time to think and reflect, a friendly and supportive team. I'd better be content with a rather boring job, with few chances to learn and grow, but on the other hand I have time to do my own things (like Im writing this post in the office) and don't have to conform to office unstated rules such as wearing high heels, intense make up or glossy dresses.

Something rings true. I have been disillusioned and disappointed a lot after 1.5 years leaving school and diving into the real world, but also, I have started to appreciate this piece of wisdom: "Happiness can be found in the little things you do everyday". After all, when I am stressed out, my little garden always helps, because I love watching plants grow.

Chuyện của núi (2)

Tuesday, 13 November 2012 Posted by Rain

1. Sáng thứ hai, sau khi tan cuộc họp giao ban ở xã, tôi đi theo anh trưởng bản mới nhậm chức chỉ tầm ngoài ba mươi tuổi về nhà. Vừa đặt hai túi đồ xuống sàn, còn chưa kịp ngước mắt ngó nhà cửa rộng dài ra sao, anh đã mau mắn chắt rượu ngâm trong bình thủy tinh ra một chai nhựa và mang thêm vài cái chén. Tục lệ ở đây khách mới đến nhà là phải uống ít nhất hai chén đầy, và phải uống cạn. Tôi bắt đầu bài ca "em bị đau dạ dày", vừa kể lể vừa nhấp nhấp. Rượu chát, chưa kịp nuốt đã thấy lưỡi bỏng rát. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nhắm mũi dốc một chén vào họng, rồi tống thêm một cốc nước to, ra cửa đứng ậm ọe như người đang ốm nghén.

Có một điều không thể tranh cãi là rượu đóng vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của người Thái. Khách đến nhà chơi nếu chủ không mang rượu ra mời sẽ bị chê là keo kiệt, nếu không uống với khách ít nhất một vài chén sẽ bị coi là không nhiệt tình. Nếu khách từ chối lời mời rượu là không lễ độ, là không trân trọng, thậm chí là vô lễ với ma nhà. Mọi cuộc vui không thể thiếu rượu. Ngày 20/10 được tổ chức từ cấp xóm, cấp bản, rồi lên đến cấp xã, thậm chí cấp gia đình, ròng rã lê thê cả tuần liền, còn lớn hơn ăn tết. Không thấy ở đâu nói về phụ nữ hay quyền phụ nữ, chỉ thấy nhạc xập xình, nhảy múa, và rất nhiều rượu. Đàn ông uống để chúc mừng chị em, phụ nữ uống để đáp lại thịnh tình của các anh các chú. Tôi đi đến đâu cũng thấy những gương mặt đỏ lựng vì rượu, các chị em trong hội phụ nữ uống hăng hái hơn tất cả, "vì mình là người làm phong trào, nếu không nhiệt tình sẽ bị trách". Sự nhiệt tình ấy được quy đổi ra bao nhiêu chén rượu gạo, bao nhiêu vò rượu cần. Một chén đi, là để mời người ta, và một chén lại, là khi người ta mời mình. Các chị phấn khởi thể hiện quyền bằng cách giành mời tất cả đàn ông có mặt, hoặc bắt một người nào đó lần lượt mời từng chị một trong phòng. Dù ai mời ai thì kết quả là tất cả cùng say khật khưỡng.

2. Hôm đầu tiên tôi tìm đến nhà những em tham gia nghiên cứu để xin phép bố mẹ, phần lớn các bà mẹ đi vắng, còn phần lớn các ông bố ngất ngưởng say. Có một ông bố 8x khi tôi đến đang nằm lăn lóc trên sàn nhà trống hươ trống hoác, bên cạnh chồng chất chén, vỏ chai nhựa và bình sành rượu cần đã sủi tăm, cố ngồi dậy nhưng mắt không mở ra nổi, cười nguệch ngoạc một nụ cười của người trí não đã tê liệt. Tôi chắc ông bố này không hiểu nổi một từ anh trưởng bản đang nói bằng tiếng Thái để giải thích về việc tham gia nghiên cứu của con mình, nhưng khi nghe đang phần tiền công tham gia, tức thì vơ lấy cái bút để kí vào tờ biên bản đồng thuận. Tôi muốn quay lại lần khác, nhưng trưởng bản nói một câu rất chân tình "không khí 20/10 đang phấn khởi thế này, còn lâu mới hết say." Đành vậy.

Tôi bị ám ảnh kinh khủng về chuyện bị ép uống rượu. Buổi tối hôm đầu tiên ở bản, em vợ chủ nhà được vào Đảng, tổ chức liên hoan. Bản chưa có điện lưới, chỉ có một số nhà mua máy thủy điện nhỏ đặt ở suối để tạo điện, buổi tối thắp được một bóng đèn dây tóc. Trong ánh sáng tờ mờ của duy nhất một ngọn đèn, tôi vừa đặt chân lên nhà đã thấy một đội quân phụ nữ đang chắt rượu ra hàng chục vỏ chai trà xanh 0 độ, để ở mỗi mâm 4 - 5 chai. Bài ca đau dạ dày ư, đây là rượu thuốc ngâm lá, không hại đâu. Bài ca đau đầu ư, đây là rượu gạo chính cống, uống vào rất êm, chỉ ngủ thôi, không đau tí nào. Tập tục là khi được mời thì phải uống, không được từ chối, không được nhấp môi rồi lại đặt xuống. Hết người này đến người khác mời, uống rồi bắt tay, thế mới là thắt chặt tình cảm. Có người ngồi nói đến 15 phút, "anh bảo Vân này, từ xưa đến nay anh làm phó chủ tịch xã 15 năm rồi, anh luôn dựa trên tinh thần tự giác tự nguyện, tất cả đều vui, đây anh bớt sang chén này một chút rồi em phải uống hết nhé, em bị đau dạ dày à, anh đây suy gan suy mật hàng chục năm rồi, đã chết được đâu, anh không thích uống rượu kể đâu nhé, anh mà thích kể thì có mà cả ngày chưa hết, anh cũng uống từ sáng đến giờ rồi chứ em tưởng một mình em đau đầu à", cứ thế cứ thế, nhất định không buông tha cho đến khi tôi ngửa cổ dốc vào họng cái thứ chất lỏng đốt ruột đốt gan ấy.

3. Tôi được hân hạnh uống chung rượu cần với anh chủ tịch xã sinh năm 83 trong buổi liên hoan tọa đàm 20/10 ở UBND xã, khi tôi vừa ló mặt vào phòng đã bị cả chục bàn tay co kéo xô đẩy ấn xuống trước một hàng dài rượu cần đã xếp sẵn "vào đây uống một chén", và đôi loa đại tướng đang phát ra thứ nhạc bình bịch như đấm vào tai. Chạm mơi, chạm mơi, xô nước lã để bên cạnh, cứ một gáo và một sừng đổ vào vò rượu cần, cứ hai người uống một, lúc là uống giao lưu tình cảm, lúc là thi thố giữa những người trẻ muốn vui, muốn tỏ ra mình là một phần của cuộc vui. Lúc sau, tôi lẻn ra ngoài giả vờ nghe điện thoại, anh chủ tịch xã giãi bày tâm sự. Mỗi khi anh xuống bản, có 40 cụ thì phải uống 40 chén, vì mình là người mới, không uống thì các cụ giận, nhiều khi anh chỉ cố tươi cười được đến lúc họ giải tán về nhà là anh gục ra đấy ngủ không còn biết trời đất. Phải uống được, mà cũng phải đủ tỉnh táo để còn biết họ đang nói gì về mình. Không nghe thì các cụ tự ái, mà nghe cũng phải sau khi đã tiêu hết vài chai rượu gạo và mấy vò rượu cần rồi, lúc mắt đã díp vào và tai thì ù đi. Làm cái chân này cũng khó lắm em ạ.

Trong một cuộc liên hoan khác, có một anh giữ chức gì đó ở xã, nói rằng hôm nay vợ đẻ. Lúc đấy là khoảng 8h hơn, anh vẫn chưa dám đứng lên để đi về, vì sợ bị đánh giá là không nhiệt tình, không tôn trọng đoàn công tác. Anh là người duy nhất không ép tôi uống rượu tối hôm đó, trông mặt buồn buồn, nói thôi anh em mình uống thăm nhau sau. Tôi thấy phẫn uất cho người vợ và đáng thương cho người chồng. Con mới được sinh ra, vợ ở nhà còn đau yếu, mà người bố và người chồng ấy phải ở bên bàn nhậu để thể hiện tấm lòng của mình với những người thật ra là xa lạ, và cũng là để làm tròn bổn phận cao quý của một người cán bộ xã tận tâm.

4. Chị chủ nhà - tức phu nhân trưởng bản - bị đau dạ dày, mỗi khi uống một chén vào là đau bụng đến tận hôm sau. Chị cũng không thích uống rượu, nhưng vẫn nằng nặc đòi uống với tôi một chén để "cảm ơn em" vì tôi đã để lại cho gia đình chị chỗ thuốc mang đi phòng thân và vài đôi tất giấy cho chị dùng mỗi khi biểu diễn văn nghệ cần đi guốc. Chị rất sợ những cơn đau, nhưng khi nhà có khách quý, vẫn phải đứng ra uống thăm, mời họ một chén rượu, bởi vì chị được nuôi dạy để trở thành một người phụ nữ tốt, cởi mở và hết lòng khi khách đến nhà, mà như thế thì không thể không uống rượu. Tôi nói "chỉ cần mời họ ăn ngon, thế là tử tế lắm rồi", chị trả lời "rượu còn cao hơn cơm em ạ".

Tôi không phải là người Thái, nên tôi được coi là khách, được ngồi ở mâm đàn ông. Nhưng tôi vẫn là người Việt, tôi nói gì họ hiểu, dù họ nói tôi không hiểu, nên khi tôi nói "không", họ không tôn trọng lời từ chối ấy. Giả sử tôi là người Thái, tôi đã có thể dễ dàng ngồi cùng mâm phụ nữ, và bỏ qua thủ tục uống rượu. Giả sử tôi là một cô Tây tóc vàng mắt xanh, tôi nói "dị ứng với cồn" hay "đau dạ dày khi uống rượu", có thể họ sẽ thực sự nghĩ rằng cơ thể tôi khác, tôi có những chuẩn mực khác, và sẽ để tôi yên khi đã tha thiết từ chối việc uống rượu. Họ không cho tôi ngồi mâm phụ nữ, cũng không cho tôi ngồi ăn yên lành trong 5 phút mà không ấn vào mặt tôi một chén rượu. Thậm chí nếu tôi là đàn ông, lời từ chối của tôi có lẽ cũng được tôn trọng hơn. Là phụ nữ, lại là phụ nữ trẻ, những người đàn ông mời rượu tôi cảm thấy bị thách đố khi chén rượu mình đưa ra bị từ chối. Khi tôi chấp nhận chén rượu từ tay một bác trai lớn tuổi, và uống hết, bác cười khà khà nói với mấy người trẻ hơn "các chú thấy chưa, mời rượu đàn bà người ta phải có cách", với vẻ rất thỏa mãn.

5. Rất dễ để kết luận rằng người Thái lười, không chịu lao động, vì họ say sưa đến nửa thời gian của năm. Gạo làm ra có thể thiếu ăn, nhưng nhất định trong nhà luôn phải có sẵn rượu. Sắn thì làm rượu cần, gạo thì làm rượu trắng. Càng dễ hơn để kết luận rằng, say như thế nên họ không thoát nghèo nổi, và đấy hoàn toàn là lỗi của những người dân tộc thiểu số.

Tôi nói chuyện với hai bạn trẻ tốt nghiệp đại học Vinh, trở về quê và đã hơn một năm vẫn đang chầu chực để xin vào một chân trong UBND xã. Không có cơ hội việc làm nào dành cho các bạn ở vùng quê này, ngoài bộ máy nhà nước có khoảng 20 nhân viên cho tất cả các phòng ban, mà những người sắp về hưu đã giữ chỗ sẵn cho con cháu nhà mình. Tại sao không ở lại Vinh hay các thành phố lớn khác? Một phần do gia đình không muốn con ở xa, một phần vì ở lại thành phố, thân cô thế cô, tiền lương khởi nghiệp bèo bọt cũng chỉ đủ làm đến đâu ăn đến đấy, thậm chí không đủ sống, nói gì đến nuôi bố mẹ già. Người ta nói nhiều đến giáo dục cho trẻ em miền núi, nhưng đến cả những gia đình khá giả nhất,đủ để nuôi con đến hết đại học, cuối cùng vẫn rơi vào bế tắc.

Nhà anh trưởng bản trồng keo được bốn năm, còn một năm nữa là thu hoạch thì người ta làm đường, phá núi, chặt hết cây đi, giả cho anh chỉ bằng một phần ba giá thị trường nếu khai thác đúng thời điểm. Ngày xưa dân dựa vào rừng để sống, bây giờ rừng là nơi để khai thác gỗ của nhà nước, hoặc của lâm tặc. Người Thái đã từng là một dân tộc rất thông minh biết chọn chỗ sống trong các thung lũng, nơi có nguồn nước dồi dào, được che chắn khỏi bão lũ bởi những núi cao, nơi mà năng suất làm lúa nương của họ cao hơn lúa đồng trũng của người Kinh cho đến khi đồng bằng bắt đầu dùng những giống lúa lai cao cấp và phân bón hóa học. Tiếp xúc với thế giới bên ngoài chỉ khiến họ thấy mình đã bị gạt ra ngoài lề, đã bị coi là thấp kém hơn, và đã bị đẩy vào chỗ rất ít quyền, rất ít tự chủ, và rất ít lối thoát.

Triết gia Paulo Feire có một ý đại loại là "loại hình áp bức cao nhất là khi kẻ bị áp bức tự đày đọa chính họ" (the strongest form of oppression is when the oppressed do it to themselves). Những người Thái cao tuổi kể rằng ngày xưa họ không uống nhiều rượu và không uống bừa bãi như lớp trẻ bây giờ. Và tôi ngờ rằng họ cũng không hề coi việc ngửa cổ dốc rượu vào họng là một tập tục đáng quý của dân tộc mình. Một anh cán bộ xã khác đã hùng hổ tuyên bố trong lúc say "Người Thái chỉ đứng sau người Kinh thôi, người Kinh là số một thì người Thái là số hai". Cái vị trí thứ hai, và sự nhận biết rằng mình là kẻ đứng sau đấy, qua lời bông đùa của anh cán bộ say, nghe có vẻ rất cay đắng.

Chuyện của núi (1)

Posted by Rain

"Hôm nay mẹ em nấu gạo nếp mới, bữa cơm đầu tiên của mùa này. Giá mà chị đến ăn cùng em, nhưng chị ở xa quá."
Qua điện thoại, giọng em nghẹn lại, còn tôi cũng chẳng biết nói gì. Đó là khoảnh khắc tôi biết mình được yêu.

Cô bé học lớp 7, tóc dài đến eo, nhưng trưởng thành hơn rất nhiều tuổi 12 của mình. Khi tôi vọc tay vào mẹt cơm nóng hổi để cùng bóp cơm làm rượu với mẹ em, mới ngơi tay đã thấy em bưng chậu nước để sẵn sau lưng, rửa tay xong ngẩng mặt lên đã thấy em cầm khăn "chị lau đi này". Trẻ con ở núi thường lớn lên như cây cỏ, nên sự nhạy cảm của em đối với tôi rất đặc biệt. Tôi nhìn quanh thấy bọn trẻ ăn kẹo quen tay vứt vỏ bừa bãi,  buông một câu "các em phải vứt giấy vào một chỗ chứ, sao lại để bừa ra thế này", rồi quanh đi quẩn lại quên bẵng mất, lúc sau nhìn lại em đã cặm cụi đi kiếm cái que củi hất hất kéo kéo gom tất cả đống giấy vụn vào một chỗ. Em nói tiếng Kinh tốt nhất trong đám trẻ tham gia nghiên cứu, thích đọc sách đọc truyện, chỉ có mỗi mình em đã từng đọc truyện "Nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn" mà tôi kể cho cả nhóm, và thích học tiếng Anh. Có lẽ vì những điều ấy mà tôi ít là một người lạ với em hơn với các bạn khác.

Chị sang nhà em ăn cơm thăm nhé, cho vui. Tôi lóng ngóng vì không quen leo trèo đường dốc, còn em thoáng cái đã bỏ lại tôi một đoạn xa. Ở núi mặt trời lặn không có đèn, đường đi sang nhà em phải lội qua một con suối, càng về đêm nước càng chảy xiết. Những ngày còn nhỏ có khi em lội nước đến bụng, đến ngực, thậm chí đến cổ. Em đã từng suýt bị lũ cuốn trôi, đầu đập vào tảng đá côm cốp, may mà túm được vào cành cây. Có hôm đi học nhóm về muộn, trời không trăng, em chạy chân không chạm đất, chỉ mong về nhà thật nhanh. Không có đường, bàn chân em thuộc từng vết mòn, từng mỏm đá. Một lần đang đi em giật thót mình thấy một con rắn hổ mang to tướng nằm ngang đường, em cắm đầu vừa chạy vừa khóc, về đến nhà vẫn chưa hoàn hồn. Rồi những bóng cây, những vạt lá, khi đêm đen trùm lên bỗng dữ tợn lạ thường. Những câu chuyện ma được nghe kể lởn vởn trong trí óc, em sợ bị dắt đi, bị đưa đường chỉ lối rồi không tìm được về nhà, nhưng cứ phải đi, không phải vì em không sợ, mà nỗi sợ đã trở thành một phần của đời sống.

Hôm nhà anh trưởng bản nơi tôi ở suốt chuyến công tác mở mấy vò rượu cần, bị nài ép quá nhiều, tôi bỏ trốn ra bờ suối ngồi để khỏi phải uống rượu. Ngồi một lúc, có một chị đi qua rủ tắm, lắc đầu. Một lúc nữa, có một thằng nhóc choai choai chạy lại chọc ghẹo vớ vẩn. Tôi không muốn về, cũng không biết làm gì, vì lúc ra vội quá không kịp mang theo mp3 lẫn kindle. Ngồi một lúc nữa thì có một bóng người tiến lại gần, hóa ra là em. Mắt người ở núi không tiếp xúc nhiều với các thể loại màn hình điện tử nên rất tinh, em nhận ra tôi từ tít phía bên kia suối. Đấy là một buổi chiều kì diệu.

Chị biết không, khi ngồi lên đá thì phải nói, đá đừng làm em nặng mông, để khi đứng dậy không bị mỏi. Tại sao? Tại vì tất cả những hòn đá đã có lúc là người. Thế những người đấy sao lại bị biến thành đá? Em cũng không biết, khi mặt trời ở một vị trí như thế nào đó, thì người biến thành đá. Ngày xưa đá biết nói, cái gì cũng biết nói, con trâu cũng biết nói cơ mà. Có một anh này đi ở cho nhà giàu, chăn trâu cho người ta, nhưng không cho trâu ăn no, nên trâu về mách chủ. Anh ta bèn dắt trâu đến một ông mo, ông mo cho trâu ngửi hương, thế là từ đó trâu không nói được nữa. Thế em nghĩ trâu nói được hay không nói được thì tốt hơn? Không nói được chứ, nếu nói được thì có gì mình làm nó cũng mách.

Em kể chuyện trường lớp, có cô này giảng bài dễ hiểu, thầy kia giảng quá nhanh, chỉ đọc cho chép, có bạn đó bé tí đã thích ăn diện và yêu đương. Rằng em thích đọc truyện, đã từng đọc cả Truyện cổ Bắc Âu, và bố mẹ bảo còn học được thì sẽ cho đi học. Tôi hỏi em nói được tiếng Kinh từ bao giờ, em bảo từ hồi mẫu giáo cô đã nói tiếng Kinh, nhưng em vẫn thích nói tiếng Thái hơn. Em rủ sang bản bên cạnh chơi, ở trên đó có suối rất đẹp. Em dẫn tôi vào một khe nước cây phủ che kín, bướm nhiều màu sắc bay rập rờn trên mặt nước. Chỗ này nước chảy từ khe ra rất sạch, em nói rồi xé một mảnh lá chuối, chụm lại để múc nước đưa tôi uống. Nước ngọt và mát. Gần tết em và các bạn hay lên rừng lấy lá đót để bán cho người ta làm chổi, kiếm tiền ăn tết. Cây đấy nhiều gai, rất dễ chảy máu tay, có khi em kiếm được năm chục nghìn, có khi được vài trăm. Rồi tết đến nếu có bạn nào có xe đạp đến rủ đi chơi, đèo nhau trên đường nhựa, sẽ rất vui.

Tôi cứ dò dẫm đi sau những bước chân thoăn thoắt của em, và nghe những câu chuyện như thế. Em thường đòi đi sau, đòi dắt tay, vì em sợ chị ngã, còn tôi chỉ quen đi đường bằng thì lóng ngóng đến khổ sở với những vách đất dốc trơn tuột không có chỗ nào để đặt chân hay bám tay vào. Ngày xưa khi trời hạn lâu, có một nhóm người đi vòng quanh bản, đến từng nhà gõ cửa để xin mưa, nhà ấy sẽ lấy cái cành cây vẩy mấy giọt nước, hoặc nếu lạnh quá lâu dân mong trời ấm lên mỗi nhà sẽ hươ hươ môt cành củi đang cháy giòn. Như thế có hiệu nghiệm không? Có chứ, nhưng bây giờ không còn ai làm như vậy nữa rồi. Em kể về những người dùng mìn đánh cá ở dưới suối, nên những con cá to ngày xưa đã chết hoặc bỏ đi hết, giờ chỉ còn cá nhỏ xíu ở chỗ nước nông. Rồi những người làm đường vạt núi, khiến nước suối đục ngầu, tôi nhìn theo ngón tay em chỉ và mơ màng tưởng tượng ra một con suối đã từng rất rộng, rất trong, giờ dấu tích còn lại chỉ là một vài lạch nước ngập bùn chảy leo lét.

Ong đang chuyển nhà đấy chị. Đâu đâu? Bay qua rồi. Sao em biết? Thì em nghe thấy, tiếng rì rì của rất nhiều con ong bay cùng một lúc. Đôi tai thành phố đã quen với bao nhiêu năm còi xe và tiếng người chát chúa của tôi không còn đủ nhạy cảm để nhận ra tiếng những lớp khí chuyển động dưới cánh của hàng vạn con ong ở một góc nào đó ẩn sâu dưới rừng đại ngàn nữa. A, có cầu vồng kìa! Tôi chỉ vào một vạt màu ấm áp ở phía xa. Em vội vã níu tay tôi. Đấy là một con rồng đang ngủ, đừng có chỉ vào nó, nó có thể bắt lấy hồn ta. Nếu muốn chỉ thì phải nói "nhà con gà con vịt kìa", để đánh lừa con rồng không biết là mình đang nói về nó. Ở ngọn núi đấy ngày xưa có con rồng, rồi nó bay về trời từ lâu rồi...

Em bao trùm tôi trong một không gian bàng bạc sự kì ảo của những truyền thuyết, những câu hát cổ bằng thứ tiếng Thái đã không còn được dùng nữa, của những niềm tin rất vững chắc về rồng, về những linh hồn lẩn khuất trong ánh trăng bóng nước, về những sức mạnh kì vĩ và con người chỉ là một phần nhỏ bé, trong cách em chỉ vào một gốc cây, một tảng đá, một góc trời và giảng giải với rất nhiều hồn nhiên, pha lẫn sự luyến tiếc, nhưng vẫn cứ dịu dàng. Dịu dàng và ảo diệu như cái khoảnh khắc em dạy tôi một bài hát trẻ con bằng tiếng Thái ở đầu hồi, giọng em trong vắt, nắng vàng tan chảy trong những mảng xanh trải dài, và tôi cuống quýt lấy máy ghi âm ra ghi lại những phút ấy, mà biết rõ ràng không có công cụ nào, hay bút mực nào, có thể lưu giữ hay diễn tả lại một khoảnh khắc rất đẹp đến mức thần tiên như vậy.

Đôi khi tôi tự hỏi có phải vì tôi hay cho kẹo, tôi là người lạ, hay vì lẩn quẩn bên cạnh tôi em sẽ được bạn bè kinh nể hay không. Nhưng nghĩ lại, rất có thể em quý tôi bởi vì tôi thật lòng thích thú với những điều em kể, vì tôi có thể lắng nghe không biết chán những điều người lớn đã cho là chuyện xưa còn trẻ con cũng không quan tâm nữa. Bình thường một đứa trẻ ở nông thôn không có nhiều cơ hội để nói, nhất là với người lớn, vì họ còn quá bận rộn với chuyện kiếm ăn, hoặc không hề nghĩ con mình có điều gì đáng nghe. Tôi cũng không biết rõ nguyên nhân là gì, tôi thích nghe chuyện còn em thích kể chuyện, có lẽ điều đơn giản ấy kéo chúng tôi lại gần nhau. Em quyến luyến tôi hơn tất cả những đứa trẻ khác trong nhóm, và hôm cuối trước khi tôi rời bản, em đã níu cổ tôi, rớt nước mắt mà rằng "Chị Vân ơi, em sẽ rất nhớ chị."

Còn tôi thì vô cùng biết ơn cô bé mười hai tuổi mỗi sáng phải đi bộ một tiếng để tới trường, lội suối băng núi, từ lúc bốn tuổi đã biết nấu cơm giặt quần áo và lên nải tìm trâu, những mùa giáp hạt đôi khi nhà thiếu cơm ăn em sẽ nhường phần của mình cho em trai còn bản thân ăn sắn, và thích học tiếng Anh để "sau này ra ngoài đường lớn người ta nói em còn hiểu", vì em đã cho tôi thấy cuộc đời như thế thật ra rất vui tươi.

(Và sau đây là bài hát "Con chuồn chuồn" trong quá trình dạy và học)

Tale of the travelling books

Saturday, 3 November 2012 Posted by Rain

There was a farewell party the last night I spent in Nat To village. As the night drew on, guests and hosts alike consumed more and more alcohol. After they finished all rice wine, they switched to cassava rice (ruou can), jar after jar. The men became a bit too pushy and touchy. When they started playing loud music, popped open a new jar, cheered as if they were in a football match and swang with the music, I decided that I had had enough of it, and ran off with the girls.

I spent that night on the bed of my most favourite girl in the group. She is 12, skinny, long hair, probably is more fluent in Vietnamese than all other adolescents I worked with, and definitely a kind, considerate and very thoughtful girl. She actually seems much more mature than her age. Throughout the night, she had silently hid her tears and occasionally held on to my neck as though she didn't want to let go of me.

As I couldn't sleep, my mind wandered to a thought of bringing my books to these children. I could easily visualize how these young adolescents who lack exposure to the outside world yet very curious and eager for new things, would enjoy reading and expanding their minds thanks to my books. But as soon as the thought stirred up, I hesitated. Books are the last thing I want to give away. I donate money and clothing from times to times, but when it comes to books, they are just such a big part of who I am and how my past was constructed that I shuddered at the thought of giving them away.

The next morning, I asked the girl if she thought her friends like reading, and whether they had time for that kind of activity. Kids are busy with all kinds of family duties and domestic work there. They have school for 6 days, everyday from 7am to 5pm, and they take care of younger siblings or nieces/nephews, animals, cooking and cleaning for the girls and catching fish and finding bamboo for the boys. I could tell that her eyes lit up at the thought of having some books to read at home. They have a small "library" at school, which is open during lunch break for a few days a week when the "librarian" feels like doing her job, otherwise it is locked up, and there are only a few books and old newspapers anyway. No one has newspapers at home, TV is rare. They don't even have wired electricity yet. Most use small hydroelectric generators placed in a small stream, so the power is usually not high enough for operating a TV in the evening, when lighting a bulb is much more of a priority.

She said "yes" to my question. Then I asked her if I sent some books, would she be able to take care of them, lend out to other kids, and manage the whole thing. She said yes. I asked if her parents would mind if too many children come to their house and stay there all day long. I started thinking parents and teachers might complain that their children spend too much time reading and neglect other duties. The authorities might even involve, who are you and why are you giving these children the books, what type of books are there, blah blah blah. I was anxious that my colleagues would think I set out a bad example if I give such a special treatment to one village and not the other, which might create jealousy. They might be upset because I acted too good, which makes them not so good in the eyes of the villagers. I was worried about many things.

But she was too excited for me to disappoint her, once I had brought the possibility up. So I told her when I got home I would send her some books, and though they are for everyone, she will be responsible for maintaining them. I knew that moment she was happy, and other kids who heard the news were happy too.

However, when it was time to pack up the books, I almost regretted my decision. These are the books I bought with money I saved up little by little, and have cherished them for over the last 10 years. They are the witness of my growing up, I spent time reading them, thinking about them, and in turn was shaped by them. I put one book in and the other book out. It was like giving away my childhood and my teenager years. I still remember which books were bought on what occasions, where I bought them, or who gave them to me. I flipped through the pages, seeing humidity and dust leaving a faint press on the pages, and recalled how white and fresh they were when I first got them. Each book has a memory behind it. It wasn't just about buying a stack of paper, it was a meeting between us, me and my book, or a conversation. I am just a citizen in their world.

Then I thought of the children, of how much potential they have yet how little opportunities are given to them. Perhaps the books will stir something in their minds, like they did in mine. Perhaps they will be aware of the world outside their village, extend the boundaries of what they can dream, and grow more confident in what they are capable of. The books, left on my bookshelves, are a part of me, but going to them, they can be a part of many more childhood and teenage years. They have served me, it's time for them to go out and serve other young souls and minds.

Finally, I worked up the courage to close a luggage full of books, my most beloved friends and teachers. On my way to the bus terminal where I sent the luggage, I felt the weight on the motorbike, but also the hollowness in my heart. It was like giving away my very blood, and a lot of blood. No matter how much I kept consoling myself that these books are just paper in my home, because I am not very likely to read them again, but in the village they will once again be alive and have the power to open up imagination, which maybe they much prefer than getting old and dusted on my shelf, I still felt cracked. It was like saying goodbye to, not a friend, but myself.

"I am giving what I love to those people I love". The thought came to my mind. Emptiness swallowed me as the luggage disappear underneath the bus. A raindrop kissed on my lip. I drove home alone, hoping that the books will be to the children what they have been to me.

Pressure to drink - Need to conform

Saturday, 13 October 2012 Posted by Rain

I don't like beer and I can't drink wine. Being a girl growing up in a traditional family and conservative society, this fact hasn't really bothered me or people surrounding me much. There are always soft drinks for family gatherings and when I hang out with friends, I order fruit shakes. My father is a heavy drinker, but obviously he doesn't fancy his daughter to be his drinking buddy. My boyfriend doesn't consume alcohol. So never before in my life do I have to face with the question of "to drink or not to drink", until I started this new job 10 days ago.

Not really. During my time in Canada, the conscious decision not to drink robbed me of many opportunities to make friends. University students in Canada, and probably other Western countries, socialize at bars and parties, where alcohol consumption is a must. No one really talks with each other during class, unless you have a group assignment or presentation. I was surprised at first, coming from 12 years of schooling where all my friendship developed inside the classroom. At Trent, I arrived at a class 10 minutes early only to find other classmates gluing their eyes to screens, be it laptop screens, cell phone screens, ipod screens, some read over notebooks, listen to music, and very few talk to one friend or another. Very quiet, very little chatting, very unlike a typical scene of classroom I knew so well where everyone talked and laughed with and at each other. It goes without saying that people make their first contact at social occasions, in a large groups. Both my uneasiness of staying in a big unfamiliar group and my inability to drink drove me away from those occasions. I ran away to seek refuge in another friend's when my house mates threw a party. I knew what I was doing to myself. I didn't have Canadian friends my age throughout the whole 4 years. I was certainly bothered by that for the first 1-2 years, but after that I came to accept the fact. And I was firm to myself, I don't drink, if I don't make friends as a consequence of that, it's fine.

Of course I have been in situations where I was offered to drink. I would cheer, lift the cup to my lips, and put it down without sipping a big amount. It has been ok to do that. I think the fact that I am not a man helps, but not now.

The very first moment I started this new job, my colleagues already talked about how I need to drink. To drink wine specifically, and a lot. "Van, you need to practice drinking". "Van, to work with Thai people, you have to drink". "If you don't drink, it will be very difficult for all of us". "The whole team won't be able to proceed if you refuse to drink". "They drink a cup of wine first thing in the morning". "Drinking is their custom, if you don't drink, they won't like you, and if they won't like you, they won't talk". "You only need to learn how to drink, then you will be good." "If you don't drink, you will be isolated". "You can vomit, someone else will take care of cleaning, don't worry". "You can be drunk for 10 times, and you will be fine the 11th time". "It's ok, you can learn, everyone can learn to drink". "You just have to do it". The talk went on and on and on. At some point, I told my supervisor "If the ability to drink is such a crucial element to this job, why didn't you put it in the job advertisement, or tell me straightaway during the interview?". He said he wanted to, but the highest boss didn't let him. I irritatedly replied that I wouldn't have applied had I known what is required of me. The only thing they asked me to prepare for the coming field trip is to drink wine.

There is an enormous pressure to conform to the drinking norm of the team. I don't see an exception, it almost seems like it's a rule no one dares to challenge. The very first welcome party for myself, I was offered a drink by the oldest and most powerful man in the whole team. He ordered me to bottom up the cup of beer. Everyone was expecting that I would swallow and swallow the liquid until it was gone, even if I would throw up right afterwards. But I didn't. I took two sips, the most I can, and put the cup down. Everyone at the table gave me that how-dare-you look , and it was awkward. Especially because I am a newbie.

The other three women could drink. I don't know if they truly enjoy the taste of wine and beer, but being so beauty conscious, they must have a sense of how alcohol could interfere with their skins and hairs. They would spend hours surfing the internet to find articles on what fruits to eat, how to make face masks from yogurts, etc, so I doubt if they don't know alcohol can ruin the positive effects of all the beauty methods they practice. Yet they kept drinking, cheering, laughing. That moment I tasted the bitter sense of loneliness, and yes, isolation.

Why would men be interested in women's drinking? Why would that man with the most authority need me to finish that cup of beer? Does it bring him any joy or happiness? What is the point of drinking if I don't like it? Many people tell me they drink to socialize, what if I don't want to socialize, or to be exact, socialize with people who force me to drink, to be like them? Then, I realize that it is not necessary about beer per se, it is also about power. When someone of higher authority offers you a drink, if you refuse, you are challenging his  power as a boss. When a man orders a woman to drink, if you don't obey, you are challenging his power as a man. That's why other people were feeling uncomfortable. There is no precedents, no one has ever put down a drink when it comes from the boss's hands. It's no longer a personal choice of consuming alcohol, it has become a social pressure of conforming. Probably my supervisor was worried that he might be blamed or affected for having a stubborn subordinate.

When I was in Canada and chose not to drink, it was a personal choice. I might let go of lots of opportunities to expand my network and get to know people, but still, it was my own business, and I accepted the consequences. But now, as I am in Vietnam and working in a context where drinking brings about a cultural and political intonation, it doesn't affect me alone. My choice of not to drink not only can limit my potential development, but it can also damage existing ones. The boss might or did feel offended at the table because I dared not to drink, thus didn't leave a good impression on him. Other colleagues might avoid associating with me because I don't play the game with their rules, and I reject the norm everyone else was following. No one likes the strange, particularly when it comes from among their own group. I can foresee desolation.

It is time for the question "should I conform to get along, because after all I am new, and I need social approval in order to work effectively or should I stand fast to my own standard and stick to what I am comfortable with rather than replace it with the group norm?". A deeper version of that is "how much I should insist on my own boundary and how much I should be willing to negotiate it?"  I have been tempted to bend, to go with the flow, and the thought that "I might as well try once, try twice, then I should be fine" is appealing in its own right. Yet I hate being pressured into doing things I don't want to, and luckily, at the moment, I am still strong and free enough to choose the latter. Hire me or fire me, you won't change what I am. If I don't like drinking, so what?

If the personal is really political, my struggle has just begun.

Cái chết nhỏ

Thursday, 27 September 2012 Posted by Rain

1. Hôm nay tớ sẽ kể cho các bạn nghe câu chuyện "Sự tích cái máy rung" (tức là cái vibrator, dụng cụ để các chị em tự đáp ứng nhu cầu sinh lý của bản thân).

Chuyện là thế này, ở nước Anh thời kì Victorian, phụ nữ, nhất là phụ nữ giới thượng lưu và trung lưu, phải tuân theo rất nhiều phép tắc và lễ nghi. Họ phải luôn giữ hình ảnh là một cô gái đoan trang, hiền thục, đứng đắn, khi có chồng rồi thì phải nghiêm nghị, chỉnh tề. Họ không được nói những từ như "đi vệ sinh, đi cầu, đi tiểu" hay các từ chỉ bộ phận sinh dục trước mặt người khác. Họ không được tự do yêu đương, phải lấy chồng theo sự sắp xếp của bố mẹ. Nhưng những ông chồng sau khi đã lấy vợ cũng chỉ coi vợ là máy đẻ và cai quản người hầu hay mặc váy đẹp đeo trang sức lộng lẫy để tiếp khách quý. Những người vợ đúng nghĩa không được tỏ ra ham thích tình dục, đòi hỏi lại càng không. Các ông mặc định niềm vui chỉ có thể tìm ở các khu nhà chứa, hoặc các bà tình nhân. Nhưng không phải bà thượng lưu ăn uống đầy đủ và nhàn rỗi nào cũng có tình nhân. Kết quả tất yếu là rất nhiều người phụ nữ ở thời kì này bị thiếu thốn cả tình cảm và tình dục.

Phụ nữ thời kì này còn nổi tiếng vì bị một loại bệnh gọi là hysteria, tức là dễ bị xúc động, hay bị ngất, mỗi lần như thế lại phải cho hít nước muối. Các bà các cô cũng hay lo âu bồn chồn một cách vô cớ, mất ngủ, khó tập trung, chán ăn. Các bác sĩ hay điều trị bệnh này bằng cách mát xa vùng xương chậu. Cứ hai tuần một lần các cô kéo nhau đến bác sĩ để được mát xa, sau đó về lại ổn ổn, hai tuần sau bắt đầu thấy bồn chồn thiếu thốn lại đến mát xa tiếp. Hồi đó khoa học giải phẫu chưa đủ phát triển để các bác sĩ nhận ra mình đang làm thay phận sự của các ông chồng, vì ai cũng nghĩ chỉ dùng tay bên ngoài thì không liên quan gì. Nhưng dần dần các bác sĩ tê tay vì có quá nhiều bà xếp hàng chờ đến lượt, một bác sĩ phát minh ra cái máy rung để các bà tự chữa bệnh ở nhà. Thế là dụng cụ thuần túy y học mà ngày nay chúng ta biết đến với tên "vibrator" ra đời.

2. Hết chuyện Tây nói sang chuyện Ta.

Đầu thế kỉ 20, thanh niên lúc bấy giờ không có internet để kết nối với thế giới, nhưng trải qua một biến chuyển xã hội to lớn không kém gì các bạn trẻ chu du khắp thiên hạ đầu thế kỉ 21 này. Đang từ phương Đông búi tó củ hành, bỗng nhiên một thế hệ được dạy tiếng Pháp, được tiếp cận với các ý thức hệ của phương Tây, được đọc những trang tiểu thuyết diễm tinh và được khuyến khích nghĩ về "cái tôi", về "cá nhân", về "quyền con người", về "dân chủ". Từ một xã hội cộng đồng, làng quê quanh đời chỉ có từng ấy việc phải lo phải nghĩ, Việt Nam được thổi một luồng gió của xã hội đề cao cá nhân, đô thị, nơi mà chẳng ai phải nghe ai, và ai cũng có quyền cho mình là đúng. Những người trí thức có cội rễ phương Đông nhưng háo hức tiếp nhận phương Tây ấy, tự nguyện hoặc bị cuốn theo, tách mình khỏi cộng đồng, khỏi những giá trị hàng ngàn năm không ai thắc mắc, để đi tìm "cái tôi", tìm những điều mới mẻ mơ hồ nhưng chắc chắn rất kì thú ông cha họ chưa từng biết đến.

Nhưng khi tách ra như thế họ lại thấy bối rối và lạc lõng. Một bên là những điều đã cũ không còn hợp với thời thế, một bên là những điều quá mới vẫn chưa ngấm được vào thân. Họ học tiếng Pháp nhưng viết báo viết thơ bằng tiếng Việt. Họ bài Nho, nhưng vẫn không gột rửa cảm giác tự ti về thân phận thuộc địa trước Pháp. Họ ngưỡng mộ sự hiện đại của châu Âu, nhưng đồng thời vẫn không quên được mình da vàng mũi tẹt. Và họ cô đơn đến cùng cực.

3. Giữa các phụ nữ Anh thời Trung Đại dùng máy rung để tự chữa các triệu chứng sinh lý do bị thiếu hụt tình dục và các trí thức thành thị (đàn ông) của Việt Nam thời Cận Đại dùng thơ Mới để giải tỏa các bí bách tinh thần có gì giống nhau?

Người Pháp có một cụm từ "La petite mort". Người Anh dịch là "the little death", còn Xuân Diệu dùng trong câu thơ nổi tiếng "Yêu là chết ở trong lòng một ít" của mình.

Có điều, "cái chết nhỏ" của người Anh là từ để chỉ cảm giác cực khoái. "Sướng muốn chết đi được", có thể hiểu nôm na như thế. Họ nói về cảm giác như ngất đi, như lịm đi, như một đi một chút gì rất vật chất, một phần sự sống trong cái khoảnh khắc thăng hoa mà Dan Brown đã miêu tả trong Mật mã Davinci là vượt qua cả ranh giới của thần linh và con người, lúc mà người ta thấy bản thể tan ra và hòa vào cõi vô định.

Còn "chết một ít" của Xuân Diệu là để tả một cảm xúc của tâm hồn. Khi cá nhân bị tách ra khỏi cộng đồng, có lẽ chỉ có tình yêu đôi lứa mới có thể khiến anh ta cảm thấy mình được hòa hợp với một con người khác, và dịu bớt sự cô đơn. Cái chết trong lòng của Xuân Diệu là cái chết hoàn toàn phi vật chất, có thể là khi người ta thật lòng yêu, họ cảm thấy cái tôi của mình nhỏ đi một chút, mất đi một góc của cá nhân, để hài hòa được với một cái cá nhân khác. Đó là mất mát, tôi gọt bớt tự tôn của mình đi một chút để lòng em hòa cùng.

4. Cùng một cụm từ mà hai giới của hai văn hóa ở hai thời điểm khác nhau đã dùng và hiểu theo hai cách hoàn toàn trái ngược nhau. Một là cảm giác sinh lý, một là cảm giác tâm hồn. Nhưng họ vẫn giống nhau ở một điểm. Họ đều dùng cái chết để miêu tả niềm vui sướng của cuộc sống mà họ thèm khát vô cùng nhưng lại thiếu thốn vô cùng.

Tham khảo:
http://podcasts.howstuffworks.com/hsw/podcasts/smnty/2011-02-21-smnty-buzz-vibrators.mp3
http://vienvanhoc.org.vn/news/lichsuvanhoc/1042/tam-thai-tri-thuc-thoi-tho-moi-truong-hop-xuan-dieu-va-huy-can.aspx
http://en.wikipedia.org/wiki/La_petite_mort

Don't define me by my job

Posted by Rain

1. A few days ago, I ran into a neighbour and she asked me "where are you working at?", I honestly answered "Im not working anywhere, Im staying home". I could clearly tell she was taken back for a few moments, not knowing how to reply. She might even interpret my answer as I didn't want to continue the conversation, because it is quite inconceivable for her to hear that someone who studied abroad doesn't have a job, and even more puzzling because I didn't make an effort to conceal that shameful fact.

One time, when my grandmother's brother visited my family and asked me "where are you working at?", I told him "Oh, Im just working here and there", because really I was working for a few places, yet they were all part-time or temporary positions, I didn't have a permanent contract with anyone. He was offended and I got a lengthy and angry lecture from my aunt for not attempting to make the answer sound nicer. "You could have said a full sentence, like I don't have a contract because I am a recent graduate yet but I am trying and they are considering me blah blah blah". She went on and on about how, to be polite, at least I should show that I was trying something else rather than "just working here and there". Her point didn't quite come across, because I didn't really understand why I should show that I was embarrassed by the fact that I wasn't working full time anywhere, while in fact I felt neither shame nor embarrassment.

2. In a gathering where most people didn't know each other, as a rule of thumb, everyone started by introducing where they work. Having no name to say, when it was my turn, I could feel the peer pressure getting more and more intense as people waited for me to tell them which place I dedicate one-third of my days to. Finally, when I finished my introduction without touching on the phrase "I am working at", one person couldn't hold his breath and cried out "but where are you working at?", I (again) honestly said "nowhere, Im waiting for application results". Quiet. No one knew what to say. I guess they felt awkward because I was different, sorry for me because I didn't have a job, and confused because they didn't know where to place me. Lacking a crucial indicator to let people know what I do for a living, what I spend my time on, what I know/have experience about, it is painfully hard for them to initiate a conversation, and they either stuck to what I introduced as my last job, or asking about my future/potential job. Outside the work context, it's just too difficult to find things to talk about.

3. The first thing a friend who hasn't seen me for a while asked is "where are you working at now?". Even though it is understandable, because I have changed jobs way too often for them to keep track of, many times I caught myself wonder why they just can't ask about something else. When I asked, my friends would say "because I want to know if you are happy at your job or not". But really, can't I be happy at something else besides a job? How about hobbies, interest, relationships and dreams? The other topics may be a bit intimate, probably, not everyone can share with anyone their dreams and relationships, but not  framing my happiness within a job is enough to open up the conversation to many other directions.

So if you see me next time, let me ask you about your interest and your life. If you have a burning passion for your job, which I also love to have, we can talk about that, of course. But if not, let us treat each other like two human beings, not just two workers.

Old book and old man

Sunday, 16 September 2012 Posted by Rain

1. I never write in books, whether they are mine or not. I love books too much to damage them in anyways, turning the pages too roughly, folding corners, spilling water, accidently wetting a book in the rain, the list goes on. I avoid all types of behaviours that may deform books one way or another, therefore of course I can't bring myself to take notes in books. Even in exercise books, when I can, I write in pencil so I could erase them later.

2. When a book comes from libraries, sometimes it will be marked here and there by previous readers. It's always fascinating to realize how many hands the book has passed through, and how many minds have penetrated the words. When a book is older than my grandparents, the pages have turned yellow and even crunchy, I can only let my imagination run wild when trying to think what sort of people have touched this very same object. I hate reading books with highlights in there, green, blue, pink, red, all kinds of colours distract me a lot, because many times someone would find something worth emphasizing which I don't. But I like the notes left on the books when it is a gift. There was one time when I almost cried when lost in the smell of the university library's old dust, I read a page full of loving words from a father for a daughter on her birthday, his hope and aspiration for his little darling. To read those words and to imagine that the two people may as well dead, buried underneath earth, or burned down to ash, the book survives them, to imagine the journal of this very book I was holding in my hands, which bookshelves it has been on, which room it has been kept, which part of the world it has traveled, to feel like I had entered some spheres so private yet had been made public, makes something deep inside me stir, like how the dust dance in an afternoon sunlight ray shone through the window.

3. That's also how I felt when I saw the old man, Mr. Hong, 93 years old, playing a string instrument in a ca tru performance in the Kim Ngan temple on Hang Bac street. There were only an American man, a Canadian woman, my friend and I for the night's audience. The artist group consisted of two singers, three instrument players, and one MC. I was so honoured to be played for by a man with such a wrinkled face. I almost trembled as tears seemed to dwell up in my eyes. He is so old, and I am so young, yet he was playing for me.

The same feeling as when I touch a book more than 100 years old and see handwriting notes faded in its crumby sheets. When I looked at his face I saw history, such a rich and deep history woven from within. And because I was his audience that night, even though I didn't understand all the songs, nor did I come to fully appreciate the music, I felt humble, so young and small in the face of time and history.

But unlike a book, when he ceases living, his stories will vanish.That thought made me sorrowful, in that very moment I should have merrily enjoyed the music.

Chuyện của phố (7)

Friday, 7 September 2012 Posted by Rain

Bài này viết từ lâu lắm rồi, chẳng nhớ là từ bao giờ nữa, chắc là năm 2008, đọc lại vẫn thấy những điều mình viết ngày ấy đến giờ vẫn không thay đổi gì, nên cứ post lại lên đây.

Ông Bản bán xổ số trước cửa nhà tôi từ trước khi tôi bắt đầu có kí ức. Buổi sáng ông ngồi ở vỉa hè bên đường, buổi chiều ông ngồi phía nhà tôi. Lúc nào ông cũng cười. Trẻ con đứa nào cần sang đường chỉ cần đứng một chỗ hét thật to "ông Bản ơi" dù đang đông khách ông cũng bỏ đấy hớt hải chạy ra, dắt nó sang tận nơi và còn dặn với theo đi cẩn thận. Mỗi lần đi đâu về tôi lại có nụ cười rạng rỡ của ông chào đón. Nụ cười đấy bao nhiêu lần làm mệt mỏi bực dọc trong tôi tan biến. Nụ cười hiền lành như của ông tiên ông bụt. Nụ cười chân thành đi từ mắt vào tim. Nụ cười có hàm răng trắng xóa bao nhiêu lần đã khiến tôi khe khẽ hát mà tưởng mình vui vô cớ. Ông đứng lên bấm chuông hộ tôi, miệng nói mấy câu đùa, tay phe phẩy quạt nan quạt với vài người tôi vài cái. Nếu bố mẹ hay chị tôi đi đâu về, ông còn đứng lên lấy cái cầu sắt ra để giúp, hoặc dắt xe hộ. Đám cưới của các cô rồi đám cưới của chị tôi không khi nào ông vắng mặt. 
Nhà ông nghèo nhưng sống rất trong sạch. Ông ở trong cái ngõ khét tiếng nghiện hút, tệ nạn, lớp thanh niên tầm tuổi chị tôi đã chết gần hết vì tiêm chích, còn lớp trẻ tầm tuổi tôi cũng không có ai theo được hết lớp 12. Thế mà ông bà với lương hưu của mình và thu nhập từ gánh xổ số của ông đã nuôi được hai anh chị khôn lớn, học hành giỏi giang rồi đi làm cho công ty nước ngoài tự lập được cả. Ông nội tôi thường bảo, đấy chính là tấm gương "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Bao nhiêu năm rồi không ngày nào ông vắng mặt. Chẳng ai quản lí cũng chẳng ai thôi thúc, nhất là từ ngày các con ông thành đạt, tiền bạc cũng không phải là vấn đề quá cấp bách nữa, thế mà ngày nào ông cũng bình thản ngồi bên bàn xổ số của mình ngắm dòng người đi qua, tươi cười với hàng xóm láng giềng. Ngày tết ông cũng không nghỉ. Tôi hỏi thì ông bảo "đây là mình đi chơi chứ có phải đi làm vất vả gì đâu mà cần nghỉ hả cháu". Nhà tôi có một thói quen chẳng biết hình thành từ bao giờ, mùng 1 cứ đi chúc tết một lượt về là dừng lại mua của ông 10 vé xổ số. Là lấy may đầu năm, là một cách mừng tuổi hay một món quà nghĩa tình?
Tôi không hiểu ngồi ở vỉa hè với một bàn xổ số không đông khách thì niềm vui ở đâu ra để ông lúc nào cũng mỉm cười? Tôi không hiểu là một người nghèo khó bản lĩnh ở đâu ra để ông sống ai ai cũng phải nể phục? Tôi cũng không hiểu nghị lực ở đâu ra mà ông bám trụ và sống với nghề bán xổ số bao nhiêu năm trời, mặt đường giữa trưa thì nóng như đổ lửa, ngày mưa thì những xe máy rồ ga phóng qua bắn bùn vào người vào mặt ông. Tôi nhớ những cô những bà bán xổ số bịt khẩu trang kín mít phờ phạc ủ dột ngồi xiêu xiêu vẹo vẹo. Thế mà ông Bản của tôi lúc nào cũng vui vẻ. Không biết ông không cảm thấy mình khổ hay ông chỉ không để người ngoài cảm thấy mình khổ? 
Người lao động Việt Nam đúng là rất lạc quan và mạnh mẽ. Càng lớn tôi càng thấy những người xung quanh mình là những tấm gương tuyệt vời, những con người ẩn chứa sức mạnh tiềm tàng mà không biết đến khi nào tôi mới học hỏi được. Chẳng phải lúc nào một nụ cười cũng là dễ dàng!
Sáng nay tôi thấy ông bơ vơ đứng nép vào một góc. Không còn bàn xổ số nữa, chỉ có một cái ghế gỗ chỏng chơ. Gương mặt rạng rỡ quen thuộc phảng phất nét buồn. Hôm nay là ngày đầu tiên người ta thực hiện cấm bán hàng trên vỉa hè. Ông chỉ còn cách cho vé số vào túi áo, đợi những người quen ít ỏi vô cùng dừng lại để bán người một tờ, kẻ hai tờ. Ông không còn cái bàn gỗ với cái bị xanh xanh đựng báo và tấm bìa "xổ số kiến thiết thủ đô" đã bạc phếch nắng mưa nữa. Ngày trước người ta thực hiện cấm để xe trên vỉa hè, bao nhiêu hàng ăn đã phải đóng cửa vì khách không có chỗ để xe nên không dừng lại. Ngày hôm nay người ta cấm luôn cả hàng rong để thực hiện tuyến phố sạch đẹp, ông nội tôi bảo "chính sách toàn triệt vào người lao động thôi". Ông nội nhìn sang đường, bóng người bạn già thường chia sẻ với mình chén nước trà xanh giờ bồn chồn đi lại, cố tìm một dáng hình quen thuộc trong dòng người tấp nập kia, những mong người ta dừng lại. Dừng lại trước một ông già ngồi trên cái ghế gỗ chỏng chơ. Ông như buồn phiền, ngượng nghịu khi thiếu đi cái bàn kính với những chiếc vé xếp hàng ngay ngắn phẳng phiu thơm phức của mình. Một ông già bán xổ số mà lại không có cái bàn, không bày ra những chiếc vé số. Chẳng phải giống như một cô thiếu nữ đoan trang hiền lành mà bị người ta lột mất áo ư?
Tôi đạp về gần về đến nhà thì thấy ông đang đi bộ ngược chiều. Cất tiếng chào ông vẫy tay cười với tôi. Thốt nhiên tôi thấy lòng đau như cắt...

Chuyện của phố (6)

Posted by Rain

Đối diện nhà tôi là một hàng bánh cuốn trứng, không biết có từ bao giờ. Chỉ nhớ là hồi tôi ba tuổi, mỗi sáng trước khi đi học mẫu giáo mẹ hay dắt tay sang đường và hỏi "hôm nay con muốn ăn gì?". Ngày đó lựa chọn ăn sáng rất phong phú, và cũng rất rẻ. Xôi thì có xôi lạc, xôi dừa, xôi ngô, xôi xéo, phở cũng có phở gà, phở bò, bún lại có bún riêu, bún ốc, bún mọc, bún thang. Vậy mà có lần trong ba tháng liền, sáng nào câu trả lời của tôi cũng chỉ là "con ăn bánh cuốn trứng".

Tôi không thích bánh cuốn Thanh Trì, một trong những đặc sản nức tiếng của Hà Nội cũng vì hàng bánh cuốn này. Bánh cuốn Thanh Trì mỏng tang, tráng sẵn để ăn nguội với nước mắm có chả quế, kèm một chút ruốc tôm rắc lên trên, và vài sợi nấm hương thái chỉ vừa đủ làm lớp bánh cuốn trắng đục có thêm chút màu sắc và hương vị. Còn hàng bánh cuốn trước cửa nhà tôi có nhân thịt nạc và nấm hương lẫn hành ở giữa chiếc bánh, không xếp cả lớp bánh dày rồi mới cắt nhỏ, mà tráng từng chiếc bánh một. Lúc nào cũng có hai nồi hấp, khi một lớp bột mỏng được dàn đều trên mặt một chiếc nồi thì bánh trên nồi kia cũng vừa chín tới. Vừa đậy vung nồi này lại mở ngay nồi kia, thêm chút nhân vào giữa và cuộn lại. Mỗi lần rải bột chỉ khoảng ba mươi giây là bánh chín, một đĩa bánh cuốn đầy chỉ cần chưa đến hai phút. Bánh cuốn vừa ra lò nóng hổi, nước chấm có hành khô, nếu khách nào thích ăn thêm một quả trứng thì trứng cũng được làm tương tự.

Ngày đấy, hàng bánh cuốn được bán bởi hai mẹ con. Bà mẹ có lẽ khoảng 60 tuổi, nhưng vẫn còn khỏe mạnh, đầu vấn khăn đen, miệng ăn trầu đỏ. Cô con gái câm điếc ngồi tráng bánh, bà cụ cắt những chiếc bánh cuốn trắng mềm đã xong xuôi, bốc một chút hành khô bỏ lên trên, chuyển bát nước chấm cho khách, nói chuyện rổn rảng và thu tiền. Rồi bà cụ yếu đi, không ra ngoài bán bánh nữa, cô con gái câm điếc duy trì hàng quà một mình. Ngày ngày cô vẫn dọn hàng, bán từ 6h đến khoảng 10h sáng, mùa nóng cũng như mùa rét, chỉ phục vụ bánh cuốn trứng, hàng không đông nghẹt, cũng không quá thưa khách, cứ đều đều như nhịp sống của con phố chẳng được xếp vào loại cổ kính cũng không hiện đại hào nhoáng với lớp lớp nhà cao tầng. Phố có vài nhà cao vót lên, có vài nhà vẫn mái ngói đỏ nghiêng nghiêng xếp lớp. Cô bán bánh cuốn lặng lẽ và cũ kĩ làm công việc của mình, phố có người đến rồi đi, có những khách quen già rồi khuất bóng, có những em bé mới được sinh ra, tất cả họ nếu đã ghé qua góc phố này thì đều có lúc thưởng thức món quà sáng mà họ gọi là "bánh cuốn cô câm".

Vì cô không nói cũng không nghe được nên hàng của cô yên ắng. Phần lớn khách chăm chú ăn, so với hàng bún riêu bên cạnh lúc nào cũng líu ríu, nhiều khi hàng bánh cuốn có vẻ trầm mặc và ưu tư, tưởng như khách ăn đang vừa cắm cúi chấm chấm nhai nhai vừa suy nghĩ về sự đời. Tất nhiên cũng có tiếng những bà mẹ trẻ quát con ăn cho nhanh không được ngậm như thế còn đi học kẻo muộn. Tiếng hàng xóm láng giềng chào nhau khi mới gặp. Tiếng một bác trai nhai nhóp nhép vài cọng rau sống, nhấm một ngụm rượu trắng và "khà" một cái khoan khoái. Rồi tiếng kéo cắt chả lách cách, tiếng túi nilon buộc bánh cuốn cho những khách mua mang về sột soạt, và tiếng cô ú ớ ra hiệu giá tiền cho khách. Hiếm khi có khách qua đường, nên phần lớn khách ăn của cô đều vô thức học được cách ra hiệu đơn giản để nói họ muốn ăn gì cho ngày hôm đấy. Những khi cả hai bên không hiểu nhau, cô bán bánh chưng rán và bà bán nước bên cạnh sẽ xen vào làm phiên dịch, vì đã ở gần nhau quá lâu, họ luôn hiểu cô bánh cuốn muốn nói gì.

Cô nhớ khẩu vị của tất cả các khách quen, bao gồm cả tôi, mặc dù có những thời gian tôi đi vắng nhiều năm không sang hàng của cô ăn được. Người nào thích nước chấm mặn, nước chấm chua vị giấm, hay nhiều hành khô, ít hành khô, bánh cuốn không nhân, trứng già hay lòng đào, cô đều để ý và nhớ cả. Khách nhiều người cũng khó tính, họ có nhiều yêu cầu đặc biệt và có người không đúng như vậy thì bắt cô phải làm lại cho bằng được. Nhưng phần lớn dân ở phố đều đã quen, và cô cũng thuộc hết ý thích của từng người, nên chỉ cần đặt mông ngồi xuống chiếc ghế gỗ dài, là cô đã bắt tay vào tráng bánh cuốn cho họ. Không có tiếng đòi hỏi, không có người cằn nhằn, cô chỉ dựa vào trí nhớ và sự quan sát để biết nên phục vụ ai trước ai sau. Mọi người cứ yên tâm ngồi đợi đến lượt mình, những cháu bé cần đi học sớm cô ưu tiên phục vụ trước. Mỗi lần cần tăng giá cho phù hợp với giá cả thị trường, cô lại vất vả giơ ngón tay ra hiệu cho từng người một, nhưng sau đó họ đều nhớ đĩa bánh cuốn kèm chả hoặc không có chả, nhiều nhân hay ít nhân, một quả trứng và ba chiếc bánh cuốn của mình giá bao nhiêu, và lần sau cứ trả cô như thế.

Không phải thứ quà quê được cố tình làm cho thanh cảnh trong những hội chợ nhằm "bảo tồn và phát huy văn hóa", cũng không phải loại quà sáng đắt sắt ra miếng trong những cửa hiệu bóng loáng máy lạnh ro ro, cô bán bánh cuốn trước cửa nhà tôi ngồi trong một con ngõ bụi bặm, phục vụ các thực khách trung thành của mình, thiếu đi tiếng nói để kết nối, nhưng sự có mặt bền bỉ của cô hàng ngày bên chiếc bàn gỗ và cái ghế gỗ dài, bên cạnh những sự đổi thay, đến và đi, khiến cho ngày hôm qua vẫn tồn tại trong ngày hôm nay, và khi tôi hai ba tuổi một mình qua đường để ăn sáng, vẫn cảm thấy con phố này có tiếng nói líu lo của chính mình ngày ba tuổi "mẹ ơi hôm nay con ăn bánh cuốn."