Showing posts with label nghệ an. Show all posts
Showing posts with label nghệ an. Show all posts

Chuyện của núi (2)

Tuesday, 13 November 2012 Posted by Rain

1. Sáng thứ hai, sau khi tan cuộc họp giao ban ở xã, tôi đi theo anh trưởng bản mới nhậm chức chỉ tầm ngoài ba mươi tuổi về nhà. Vừa đặt hai túi đồ xuống sàn, còn chưa kịp ngước mắt ngó nhà cửa rộng dài ra sao, anh đã mau mắn chắt rượu ngâm trong bình thủy tinh ra một chai nhựa và mang thêm vài cái chén. Tục lệ ở đây khách mới đến nhà là phải uống ít nhất hai chén đầy, và phải uống cạn. Tôi bắt đầu bài ca "em bị đau dạ dày", vừa kể lể vừa nhấp nhấp. Rượu chát, chưa kịp nuốt đã thấy lưỡi bỏng rát. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nhắm mũi dốc một chén vào họng, rồi tống thêm một cốc nước to, ra cửa đứng ậm ọe như người đang ốm nghén.

Có một điều không thể tranh cãi là rượu đóng vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của người Thái. Khách đến nhà chơi nếu chủ không mang rượu ra mời sẽ bị chê là keo kiệt, nếu không uống với khách ít nhất một vài chén sẽ bị coi là không nhiệt tình. Nếu khách từ chối lời mời rượu là không lễ độ, là không trân trọng, thậm chí là vô lễ với ma nhà. Mọi cuộc vui không thể thiếu rượu. Ngày 20/10 được tổ chức từ cấp xóm, cấp bản, rồi lên đến cấp xã, thậm chí cấp gia đình, ròng rã lê thê cả tuần liền, còn lớn hơn ăn tết. Không thấy ở đâu nói về phụ nữ hay quyền phụ nữ, chỉ thấy nhạc xập xình, nhảy múa, và rất nhiều rượu. Đàn ông uống để chúc mừng chị em, phụ nữ uống để đáp lại thịnh tình của các anh các chú. Tôi đi đến đâu cũng thấy những gương mặt đỏ lựng vì rượu, các chị em trong hội phụ nữ uống hăng hái hơn tất cả, "vì mình là người làm phong trào, nếu không nhiệt tình sẽ bị trách". Sự nhiệt tình ấy được quy đổi ra bao nhiêu chén rượu gạo, bao nhiêu vò rượu cần. Một chén đi, là để mời người ta, và một chén lại, là khi người ta mời mình. Các chị phấn khởi thể hiện quyền bằng cách giành mời tất cả đàn ông có mặt, hoặc bắt một người nào đó lần lượt mời từng chị một trong phòng. Dù ai mời ai thì kết quả là tất cả cùng say khật khưỡng.

2. Hôm đầu tiên tôi tìm đến nhà những em tham gia nghiên cứu để xin phép bố mẹ, phần lớn các bà mẹ đi vắng, còn phần lớn các ông bố ngất ngưởng say. Có một ông bố 8x khi tôi đến đang nằm lăn lóc trên sàn nhà trống hươ trống hoác, bên cạnh chồng chất chén, vỏ chai nhựa và bình sành rượu cần đã sủi tăm, cố ngồi dậy nhưng mắt không mở ra nổi, cười nguệch ngoạc một nụ cười của người trí não đã tê liệt. Tôi chắc ông bố này không hiểu nổi một từ anh trưởng bản đang nói bằng tiếng Thái để giải thích về việc tham gia nghiên cứu của con mình, nhưng khi nghe đang phần tiền công tham gia, tức thì vơ lấy cái bút để kí vào tờ biên bản đồng thuận. Tôi muốn quay lại lần khác, nhưng trưởng bản nói một câu rất chân tình "không khí 20/10 đang phấn khởi thế này, còn lâu mới hết say." Đành vậy.

Tôi bị ám ảnh kinh khủng về chuyện bị ép uống rượu. Buổi tối hôm đầu tiên ở bản, em vợ chủ nhà được vào Đảng, tổ chức liên hoan. Bản chưa có điện lưới, chỉ có một số nhà mua máy thủy điện nhỏ đặt ở suối để tạo điện, buổi tối thắp được một bóng đèn dây tóc. Trong ánh sáng tờ mờ của duy nhất một ngọn đèn, tôi vừa đặt chân lên nhà đã thấy một đội quân phụ nữ đang chắt rượu ra hàng chục vỏ chai trà xanh 0 độ, để ở mỗi mâm 4 - 5 chai. Bài ca đau dạ dày ư, đây là rượu thuốc ngâm lá, không hại đâu. Bài ca đau đầu ư, đây là rượu gạo chính cống, uống vào rất êm, chỉ ngủ thôi, không đau tí nào. Tập tục là khi được mời thì phải uống, không được từ chối, không được nhấp môi rồi lại đặt xuống. Hết người này đến người khác mời, uống rồi bắt tay, thế mới là thắt chặt tình cảm. Có người ngồi nói đến 15 phút, "anh bảo Vân này, từ xưa đến nay anh làm phó chủ tịch xã 15 năm rồi, anh luôn dựa trên tinh thần tự giác tự nguyện, tất cả đều vui, đây anh bớt sang chén này một chút rồi em phải uống hết nhé, em bị đau dạ dày à, anh đây suy gan suy mật hàng chục năm rồi, đã chết được đâu, anh không thích uống rượu kể đâu nhé, anh mà thích kể thì có mà cả ngày chưa hết, anh cũng uống từ sáng đến giờ rồi chứ em tưởng một mình em đau đầu à", cứ thế cứ thế, nhất định không buông tha cho đến khi tôi ngửa cổ dốc vào họng cái thứ chất lỏng đốt ruột đốt gan ấy.

3. Tôi được hân hạnh uống chung rượu cần với anh chủ tịch xã sinh năm 83 trong buổi liên hoan tọa đàm 20/10 ở UBND xã, khi tôi vừa ló mặt vào phòng đã bị cả chục bàn tay co kéo xô đẩy ấn xuống trước một hàng dài rượu cần đã xếp sẵn "vào đây uống một chén", và đôi loa đại tướng đang phát ra thứ nhạc bình bịch như đấm vào tai. Chạm mơi, chạm mơi, xô nước lã để bên cạnh, cứ một gáo và một sừng đổ vào vò rượu cần, cứ hai người uống một, lúc là uống giao lưu tình cảm, lúc là thi thố giữa những người trẻ muốn vui, muốn tỏ ra mình là một phần của cuộc vui. Lúc sau, tôi lẻn ra ngoài giả vờ nghe điện thoại, anh chủ tịch xã giãi bày tâm sự. Mỗi khi anh xuống bản, có 40 cụ thì phải uống 40 chén, vì mình là người mới, không uống thì các cụ giận, nhiều khi anh chỉ cố tươi cười được đến lúc họ giải tán về nhà là anh gục ra đấy ngủ không còn biết trời đất. Phải uống được, mà cũng phải đủ tỉnh táo để còn biết họ đang nói gì về mình. Không nghe thì các cụ tự ái, mà nghe cũng phải sau khi đã tiêu hết vài chai rượu gạo và mấy vò rượu cần rồi, lúc mắt đã díp vào và tai thì ù đi. Làm cái chân này cũng khó lắm em ạ.

Trong một cuộc liên hoan khác, có một anh giữ chức gì đó ở xã, nói rằng hôm nay vợ đẻ. Lúc đấy là khoảng 8h hơn, anh vẫn chưa dám đứng lên để đi về, vì sợ bị đánh giá là không nhiệt tình, không tôn trọng đoàn công tác. Anh là người duy nhất không ép tôi uống rượu tối hôm đó, trông mặt buồn buồn, nói thôi anh em mình uống thăm nhau sau. Tôi thấy phẫn uất cho người vợ và đáng thương cho người chồng. Con mới được sinh ra, vợ ở nhà còn đau yếu, mà người bố và người chồng ấy phải ở bên bàn nhậu để thể hiện tấm lòng của mình với những người thật ra là xa lạ, và cũng là để làm tròn bổn phận cao quý của một người cán bộ xã tận tâm.

4. Chị chủ nhà - tức phu nhân trưởng bản - bị đau dạ dày, mỗi khi uống một chén vào là đau bụng đến tận hôm sau. Chị cũng không thích uống rượu, nhưng vẫn nằng nặc đòi uống với tôi một chén để "cảm ơn em" vì tôi đã để lại cho gia đình chị chỗ thuốc mang đi phòng thân và vài đôi tất giấy cho chị dùng mỗi khi biểu diễn văn nghệ cần đi guốc. Chị rất sợ những cơn đau, nhưng khi nhà có khách quý, vẫn phải đứng ra uống thăm, mời họ một chén rượu, bởi vì chị được nuôi dạy để trở thành một người phụ nữ tốt, cởi mở và hết lòng khi khách đến nhà, mà như thế thì không thể không uống rượu. Tôi nói "chỉ cần mời họ ăn ngon, thế là tử tế lắm rồi", chị trả lời "rượu còn cao hơn cơm em ạ".

Tôi không phải là người Thái, nên tôi được coi là khách, được ngồi ở mâm đàn ông. Nhưng tôi vẫn là người Việt, tôi nói gì họ hiểu, dù họ nói tôi không hiểu, nên khi tôi nói "không", họ không tôn trọng lời từ chối ấy. Giả sử tôi là người Thái, tôi đã có thể dễ dàng ngồi cùng mâm phụ nữ, và bỏ qua thủ tục uống rượu. Giả sử tôi là một cô Tây tóc vàng mắt xanh, tôi nói "dị ứng với cồn" hay "đau dạ dày khi uống rượu", có thể họ sẽ thực sự nghĩ rằng cơ thể tôi khác, tôi có những chuẩn mực khác, và sẽ để tôi yên khi đã tha thiết từ chối việc uống rượu. Họ không cho tôi ngồi mâm phụ nữ, cũng không cho tôi ngồi ăn yên lành trong 5 phút mà không ấn vào mặt tôi một chén rượu. Thậm chí nếu tôi là đàn ông, lời từ chối của tôi có lẽ cũng được tôn trọng hơn. Là phụ nữ, lại là phụ nữ trẻ, những người đàn ông mời rượu tôi cảm thấy bị thách đố khi chén rượu mình đưa ra bị từ chối. Khi tôi chấp nhận chén rượu từ tay một bác trai lớn tuổi, và uống hết, bác cười khà khà nói với mấy người trẻ hơn "các chú thấy chưa, mời rượu đàn bà người ta phải có cách", với vẻ rất thỏa mãn.

5. Rất dễ để kết luận rằng người Thái lười, không chịu lao động, vì họ say sưa đến nửa thời gian của năm. Gạo làm ra có thể thiếu ăn, nhưng nhất định trong nhà luôn phải có sẵn rượu. Sắn thì làm rượu cần, gạo thì làm rượu trắng. Càng dễ hơn để kết luận rằng, say như thế nên họ không thoát nghèo nổi, và đấy hoàn toàn là lỗi của những người dân tộc thiểu số.

Tôi nói chuyện với hai bạn trẻ tốt nghiệp đại học Vinh, trở về quê và đã hơn một năm vẫn đang chầu chực để xin vào một chân trong UBND xã. Không có cơ hội việc làm nào dành cho các bạn ở vùng quê này, ngoài bộ máy nhà nước có khoảng 20 nhân viên cho tất cả các phòng ban, mà những người sắp về hưu đã giữ chỗ sẵn cho con cháu nhà mình. Tại sao không ở lại Vinh hay các thành phố lớn khác? Một phần do gia đình không muốn con ở xa, một phần vì ở lại thành phố, thân cô thế cô, tiền lương khởi nghiệp bèo bọt cũng chỉ đủ làm đến đâu ăn đến đấy, thậm chí không đủ sống, nói gì đến nuôi bố mẹ già. Người ta nói nhiều đến giáo dục cho trẻ em miền núi, nhưng đến cả những gia đình khá giả nhất,đủ để nuôi con đến hết đại học, cuối cùng vẫn rơi vào bế tắc.

Nhà anh trưởng bản trồng keo được bốn năm, còn một năm nữa là thu hoạch thì người ta làm đường, phá núi, chặt hết cây đi, giả cho anh chỉ bằng một phần ba giá thị trường nếu khai thác đúng thời điểm. Ngày xưa dân dựa vào rừng để sống, bây giờ rừng là nơi để khai thác gỗ của nhà nước, hoặc của lâm tặc. Người Thái đã từng là một dân tộc rất thông minh biết chọn chỗ sống trong các thung lũng, nơi có nguồn nước dồi dào, được che chắn khỏi bão lũ bởi những núi cao, nơi mà năng suất làm lúa nương của họ cao hơn lúa đồng trũng của người Kinh cho đến khi đồng bằng bắt đầu dùng những giống lúa lai cao cấp và phân bón hóa học. Tiếp xúc với thế giới bên ngoài chỉ khiến họ thấy mình đã bị gạt ra ngoài lề, đã bị coi là thấp kém hơn, và đã bị đẩy vào chỗ rất ít quyền, rất ít tự chủ, và rất ít lối thoát.

Triết gia Paulo Feire có một ý đại loại là "loại hình áp bức cao nhất là khi kẻ bị áp bức tự đày đọa chính họ" (the strongest form of oppression is when the oppressed do it to themselves). Những người Thái cao tuổi kể rằng ngày xưa họ không uống nhiều rượu và không uống bừa bãi như lớp trẻ bây giờ. Và tôi ngờ rằng họ cũng không hề coi việc ngửa cổ dốc rượu vào họng là một tập tục đáng quý của dân tộc mình. Một anh cán bộ xã khác đã hùng hổ tuyên bố trong lúc say "Người Thái chỉ đứng sau người Kinh thôi, người Kinh là số một thì người Thái là số hai". Cái vị trí thứ hai, và sự nhận biết rằng mình là kẻ đứng sau đấy, qua lời bông đùa của anh cán bộ say, nghe có vẻ rất cay đắng.

Chuyện của núi (1)

Posted by Rain

"Hôm nay mẹ em nấu gạo nếp mới, bữa cơm đầu tiên của mùa này. Giá mà chị đến ăn cùng em, nhưng chị ở xa quá."
Qua điện thoại, giọng em nghẹn lại, còn tôi cũng chẳng biết nói gì. Đó là khoảnh khắc tôi biết mình được yêu.

Cô bé học lớp 7, tóc dài đến eo, nhưng trưởng thành hơn rất nhiều tuổi 12 của mình. Khi tôi vọc tay vào mẹt cơm nóng hổi để cùng bóp cơm làm rượu với mẹ em, mới ngơi tay đã thấy em bưng chậu nước để sẵn sau lưng, rửa tay xong ngẩng mặt lên đã thấy em cầm khăn "chị lau đi này". Trẻ con ở núi thường lớn lên như cây cỏ, nên sự nhạy cảm của em đối với tôi rất đặc biệt. Tôi nhìn quanh thấy bọn trẻ ăn kẹo quen tay vứt vỏ bừa bãi,  buông một câu "các em phải vứt giấy vào một chỗ chứ, sao lại để bừa ra thế này", rồi quanh đi quẩn lại quên bẵng mất, lúc sau nhìn lại em đã cặm cụi đi kiếm cái que củi hất hất kéo kéo gom tất cả đống giấy vụn vào một chỗ. Em nói tiếng Kinh tốt nhất trong đám trẻ tham gia nghiên cứu, thích đọc sách đọc truyện, chỉ có mỗi mình em đã từng đọc truyện "Nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn" mà tôi kể cho cả nhóm, và thích học tiếng Anh. Có lẽ vì những điều ấy mà tôi ít là một người lạ với em hơn với các bạn khác.

Chị sang nhà em ăn cơm thăm nhé, cho vui. Tôi lóng ngóng vì không quen leo trèo đường dốc, còn em thoáng cái đã bỏ lại tôi một đoạn xa. Ở núi mặt trời lặn không có đèn, đường đi sang nhà em phải lội qua một con suối, càng về đêm nước càng chảy xiết. Những ngày còn nhỏ có khi em lội nước đến bụng, đến ngực, thậm chí đến cổ. Em đã từng suýt bị lũ cuốn trôi, đầu đập vào tảng đá côm cốp, may mà túm được vào cành cây. Có hôm đi học nhóm về muộn, trời không trăng, em chạy chân không chạm đất, chỉ mong về nhà thật nhanh. Không có đường, bàn chân em thuộc từng vết mòn, từng mỏm đá. Một lần đang đi em giật thót mình thấy một con rắn hổ mang to tướng nằm ngang đường, em cắm đầu vừa chạy vừa khóc, về đến nhà vẫn chưa hoàn hồn. Rồi những bóng cây, những vạt lá, khi đêm đen trùm lên bỗng dữ tợn lạ thường. Những câu chuyện ma được nghe kể lởn vởn trong trí óc, em sợ bị dắt đi, bị đưa đường chỉ lối rồi không tìm được về nhà, nhưng cứ phải đi, không phải vì em không sợ, mà nỗi sợ đã trở thành một phần của đời sống.

Hôm nhà anh trưởng bản nơi tôi ở suốt chuyến công tác mở mấy vò rượu cần, bị nài ép quá nhiều, tôi bỏ trốn ra bờ suối ngồi để khỏi phải uống rượu. Ngồi một lúc, có một chị đi qua rủ tắm, lắc đầu. Một lúc nữa, có một thằng nhóc choai choai chạy lại chọc ghẹo vớ vẩn. Tôi không muốn về, cũng không biết làm gì, vì lúc ra vội quá không kịp mang theo mp3 lẫn kindle. Ngồi một lúc nữa thì có một bóng người tiến lại gần, hóa ra là em. Mắt người ở núi không tiếp xúc nhiều với các thể loại màn hình điện tử nên rất tinh, em nhận ra tôi từ tít phía bên kia suối. Đấy là một buổi chiều kì diệu.

Chị biết không, khi ngồi lên đá thì phải nói, đá đừng làm em nặng mông, để khi đứng dậy không bị mỏi. Tại sao? Tại vì tất cả những hòn đá đã có lúc là người. Thế những người đấy sao lại bị biến thành đá? Em cũng không biết, khi mặt trời ở một vị trí như thế nào đó, thì người biến thành đá. Ngày xưa đá biết nói, cái gì cũng biết nói, con trâu cũng biết nói cơ mà. Có một anh này đi ở cho nhà giàu, chăn trâu cho người ta, nhưng không cho trâu ăn no, nên trâu về mách chủ. Anh ta bèn dắt trâu đến một ông mo, ông mo cho trâu ngửi hương, thế là từ đó trâu không nói được nữa. Thế em nghĩ trâu nói được hay không nói được thì tốt hơn? Không nói được chứ, nếu nói được thì có gì mình làm nó cũng mách.

Em kể chuyện trường lớp, có cô này giảng bài dễ hiểu, thầy kia giảng quá nhanh, chỉ đọc cho chép, có bạn đó bé tí đã thích ăn diện và yêu đương. Rằng em thích đọc truyện, đã từng đọc cả Truyện cổ Bắc Âu, và bố mẹ bảo còn học được thì sẽ cho đi học. Tôi hỏi em nói được tiếng Kinh từ bao giờ, em bảo từ hồi mẫu giáo cô đã nói tiếng Kinh, nhưng em vẫn thích nói tiếng Thái hơn. Em rủ sang bản bên cạnh chơi, ở trên đó có suối rất đẹp. Em dẫn tôi vào một khe nước cây phủ che kín, bướm nhiều màu sắc bay rập rờn trên mặt nước. Chỗ này nước chảy từ khe ra rất sạch, em nói rồi xé một mảnh lá chuối, chụm lại để múc nước đưa tôi uống. Nước ngọt và mát. Gần tết em và các bạn hay lên rừng lấy lá đót để bán cho người ta làm chổi, kiếm tiền ăn tết. Cây đấy nhiều gai, rất dễ chảy máu tay, có khi em kiếm được năm chục nghìn, có khi được vài trăm. Rồi tết đến nếu có bạn nào có xe đạp đến rủ đi chơi, đèo nhau trên đường nhựa, sẽ rất vui.

Tôi cứ dò dẫm đi sau những bước chân thoăn thoắt của em, và nghe những câu chuyện như thế. Em thường đòi đi sau, đòi dắt tay, vì em sợ chị ngã, còn tôi chỉ quen đi đường bằng thì lóng ngóng đến khổ sở với những vách đất dốc trơn tuột không có chỗ nào để đặt chân hay bám tay vào. Ngày xưa khi trời hạn lâu, có một nhóm người đi vòng quanh bản, đến từng nhà gõ cửa để xin mưa, nhà ấy sẽ lấy cái cành cây vẩy mấy giọt nước, hoặc nếu lạnh quá lâu dân mong trời ấm lên mỗi nhà sẽ hươ hươ môt cành củi đang cháy giòn. Như thế có hiệu nghiệm không? Có chứ, nhưng bây giờ không còn ai làm như vậy nữa rồi. Em kể về những người dùng mìn đánh cá ở dưới suối, nên những con cá to ngày xưa đã chết hoặc bỏ đi hết, giờ chỉ còn cá nhỏ xíu ở chỗ nước nông. Rồi những người làm đường vạt núi, khiến nước suối đục ngầu, tôi nhìn theo ngón tay em chỉ và mơ màng tưởng tượng ra một con suối đã từng rất rộng, rất trong, giờ dấu tích còn lại chỉ là một vài lạch nước ngập bùn chảy leo lét.

Ong đang chuyển nhà đấy chị. Đâu đâu? Bay qua rồi. Sao em biết? Thì em nghe thấy, tiếng rì rì của rất nhiều con ong bay cùng một lúc. Đôi tai thành phố đã quen với bao nhiêu năm còi xe và tiếng người chát chúa của tôi không còn đủ nhạy cảm để nhận ra tiếng những lớp khí chuyển động dưới cánh của hàng vạn con ong ở một góc nào đó ẩn sâu dưới rừng đại ngàn nữa. A, có cầu vồng kìa! Tôi chỉ vào một vạt màu ấm áp ở phía xa. Em vội vã níu tay tôi. Đấy là một con rồng đang ngủ, đừng có chỉ vào nó, nó có thể bắt lấy hồn ta. Nếu muốn chỉ thì phải nói "nhà con gà con vịt kìa", để đánh lừa con rồng không biết là mình đang nói về nó. Ở ngọn núi đấy ngày xưa có con rồng, rồi nó bay về trời từ lâu rồi...

Em bao trùm tôi trong một không gian bàng bạc sự kì ảo của những truyền thuyết, những câu hát cổ bằng thứ tiếng Thái đã không còn được dùng nữa, của những niềm tin rất vững chắc về rồng, về những linh hồn lẩn khuất trong ánh trăng bóng nước, về những sức mạnh kì vĩ và con người chỉ là một phần nhỏ bé, trong cách em chỉ vào một gốc cây, một tảng đá, một góc trời và giảng giải với rất nhiều hồn nhiên, pha lẫn sự luyến tiếc, nhưng vẫn cứ dịu dàng. Dịu dàng và ảo diệu như cái khoảnh khắc em dạy tôi một bài hát trẻ con bằng tiếng Thái ở đầu hồi, giọng em trong vắt, nắng vàng tan chảy trong những mảng xanh trải dài, và tôi cuống quýt lấy máy ghi âm ra ghi lại những phút ấy, mà biết rõ ràng không có công cụ nào, hay bút mực nào, có thể lưu giữ hay diễn tả lại một khoảnh khắc rất đẹp đến mức thần tiên như vậy.

Đôi khi tôi tự hỏi có phải vì tôi hay cho kẹo, tôi là người lạ, hay vì lẩn quẩn bên cạnh tôi em sẽ được bạn bè kinh nể hay không. Nhưng nghĩ lại, rất có thể em quý tôi bởi vì tôi thật lòng thích thú với những điều em kể, vì tôi có thể lắng nghe không biết chán những điều người lớn đã cho là chuyện xưa còn trẻ con cũng không quan tâm nữa. Bình thường một đứa trẻ ở nông thôn không có nhiều cơ hội để nói, nhất là với người lớn, vì họ còn quá bận rộn với chuyện kiếm ăn, hoặc không hề nghĩ con mình có điều gì đáng nghe. Tôi cũng không biết rõ nguyên nhân là gì, tôi thích nghe chuyện còn em thích kể chuyện, có lẽ điều đơn giản ấy kéo chúng tôi lại gần nhau. Em quyến luyến tôi hơn tất cả những đứa trẻ khác trong nhóm, và hôm cuối trước khi tôi rời bản, em đã níu cổ tôi, rớt nước mắt mà rằng "Chị Vân ơi, em sẽ rất nhớ chị."

Còn tôi thì vô cùng biết ơn cô bé mười hai tuổi mỗi sáng phải đi bộ một tiếng để tới trường, lội suối băng núi, từ lúc bốn tuổi đã biết nấu cơm giặt quần áo và lên nải tìm trâu, những mùa giáp hạt đôi khi nhà thiếu cơm ăn em sẽ nhường phần của mình cho em trai còn bản thân ăn sắn, và thích học tiếng Anh để "sau này ra ngoài đường lớn người ta nói em còn hiểu", vì em đã cho tôi thấy cuộc đời như thế thật ra rất vui tươi.

(Và sau đây là bài hát "Con chuồn chuồn" trong quá trình dạy và học)