Showing posts with label books. Show all posts
Showing posts with label books. Show all posts

Sông

Tuesday, 1 January 2013 Posted by Rain

Cho những ngày chủ nhật vắng người

Tôi đi mua Sông vào ngày chủ nhật cuối cùng của năm. Gió rít ào ào trên đường, nghe nói đêm qua có cây đổ, nên người qua lại cũng thưa thớt. Tôi trùm chăn đọc Sông cả ngày hôm đó, hầu như không giao tiếp chuyện trò với ai. Cũng mừng vì quyển sách đến với tôi đúng như cách tác giả muốn.

Nguyễn Ngọc Tư hình như là nhà văn Việt Nam duy nhất tôi mến mộ. Mến mộ khác với yêu thích. Tôi yêu thích rất nhiều nhà văn, nhưng mến mộ rất ít người. Yêu thích là tôi thích một, hoặc vài tác phẩm của họ, nhưng không phải tất cả. Còn mến mộ là tôi ngấu nghiến tất cả các tác phẩm của nhà văn đó, và tôi yêu cả con người đằng sau những tác phẩm ấy.

Trên bìa đề "Tiểu thuyết đầu tay" của chị Tư. Thật sự tôi không hiểu sự khác nhau giữa truyện dài và tiểu thuyết ngắn, ngoài số chữ số dòng. Nếu tôi viết một thiên truyện và cho rằng nó đủ dài để được gọi là tiểu thuyết, nhưng biên tập sách lại nghĩ in ra vẫn chưa được dày dặn, thì ý kiến của ai sẽ đóng vai trò quyết định trong việc phân loại cuốn sách đó. Dĩ nhiên tiểu thuyết có những tuyến nhân vật phức tạp hơn, nhiều sự kiện đan xen chồng chéo hơn, nhưng tất cả chỉ là sự khác nhau của mức độ, không phải về bản chất.

"Sông" là truyện về dòng chảy của con sông Di, về chàng thanh niên đi dọc bờ sông để chạy trốn và về những con người sống hai bên bờ, về thần linh và người phàm, về những bóng ma luẩn quẩn bên cạnh người sống. Không khí u linh ở trong truyện rất rõ nét, cho dù không phải dạng truyện liêu trai, nhưng cứ vài chục trang lại có một người sống tìm đến cái chết, còn những chuyện con của Hà Bá đi theo một người phụ nữ để đòi lấy cô, vong hồn của người anh sinh đôi nghiện ngập luôn ở cạnh đứa em gái và nói chuyện với những người sống qua nó, rồi một chị bán hàng ở phiên chợ âm xin nhân vật chính một đứa con khắc khoải nhớ khi cậu quên lời hứa gặp mặt. Ở trong "Cánh đồng bất tận" ngày xưa, chị Tư đưa người đọc vào thế giới của những con vịt, nói ê mày ơi mấy đứa người kia thật kì dị, thì ở "Sông", chị lại tung lên một lớp ảo ảnh lóng lánh để cõi thần phật âm dương chẳng còn chút ranh giới nào.

Tôi rất phục khả năng tóm gọn bản chất của mỗi nhân vật chỉ trong vài câu chữ ngắn gọn. Nhiều người xuất hiện, ngoài những người có nhiều mâu thuẫn nội tâm và do đó được dành nhiều chữ để miêu tả, những người khác chỉ có vài dòng, nhưng rất riêng. Thằng nhỏ có mái tóc vuốt ngược có thể đâm thủng bụng bất cứ con ruổi nào. Mẹ ướt rượt tâm tính đàn bà như vậy bảo sao không có nhiều đàn ông mê. Tôi cứ hình dung người viết ngồi im lặng ở một góc nào đó, không thiết bị công nghệ hiện đại để lưu giữ hình ảnh âm thanh nào trên tay, nhưng bằng sự nhạy cảm của mình, bằng trái tim mở rộng hết cỡ của mình, chị chỉ cần nhìn là gọi ra được bản chất của một con người. Giống như một thầy tu, tâm của người viết đã tĩnh như mặt ao phẳng hay như dây đàn căng, chỉ cần một chiếc lá khẽ xoay là đã rung lên nhịp khác.

Tiểu thuyết đụng chạm đến rất nhiều vấn đề xã hội lớn. Hầu như nhân vật nào của chị cũng có thể làm đối tượng "cần được giúp đỡ" của các tổ chức NGO địa phương và quốc tế. Kể sơ sơ ra tôi nhận diện được bạo lực gia đình, định kiến giới, trầm cảm và các bệnh rối loạn tâm lý, nạo phá thai, xung đột sắc tộc và sự biến mất của các văn hóa dân tộc ít người, đói nghèo, trẻ mồ côi, biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên quá mức, đồng tính và rất nhiều các "nạn" đã được mổ xẻ bằng vô số các văn bản, báo cáo, nghiên cứu tràn ngập các từ ngữ đao to búa lớn. Nói về sạt lở đất, một hậu quả trực tiếp của biến đổi khí hậu với những người sống ven sông, chị để một bà lão nói rằng "ở đây có gì mà không trôi". Sông tính khí thất thường, thích thì lấy đi vài nóc nhà, vài mạng sống. Người ta, dĩ nhiên là những người nghèo chẳng có lựa chọn nào khác, đã quen với việc có những người vừa nói chuyện với mình hồi chiều thì sáng hôm sau đã trôi mất. Rất cam chịu.

Nhân vật chính là một chàng trai hay bị tưởng nhầm là con gái, thích nấu ăn và những kí ức về người yêu cũ, giờ đã lấy vợ, thường ào ạt về cùng những tin nhắn của người kia. Tôi thích cách chị để những thứ hay khiến người ta phải xôn xao, như yêu người cùng giới, hay cưỡng hiếp, vào trung tâm những tác phẩm của mình, nhưng vẫn cứ nhẹ như không. Chị không phơi bày ai, không nói về ai, không lên gân lên cốt để thu hút sự chú ý hay tỏ tấm lòng thông cảm của mình với ai. So với cuộc triển lãm ảnh "Sự lựa chọn màu hồng" về đời sống của những cặp đôi đồng tính đã thu hút sự chú ý của truyền thông lẫn những tổ chức làm về vấn đề giới và LGBT gần đây, tôi thấy cách tiếp cận của chị nhân văn hơn. Chỉ đơn giản là một chàng trai khi đau khổ vì thất tình thì nỗi đau ấy, nỗi nhớ ấy, sự giằng xé ấy, ở ai cũng như ai thôi, không quan trọng là người đã khiến chàng đau khổ là nam hay nữ. Dĩ nhiên câu chữ thì dễ lột tả nội tâm hơn hình ảnh, nhưng có vẻ như để truyền đi thông điệp "người đồng tính cũng có tình yêu và đời sống hết sức bình thường", nhiếp ảnh gia của cuộc triển lãm đã phải cố gắng rất nhiều, phải gồng lên rất nhiều để chụp những khoảnh khắc riêng tư nhằm mang điều mình muốn diễn đạt ra công chúng. Cá nhân tôi thấy dễ đồng cảm hơn với chàng trai của chị Tư, có thể vì những cảm xúc tiêu cực như nỗi đau và sự bế tắc thường khơi dậy sự thông cảm dễ dàng hơn, hoặc đơn giản là tôi thích cái nhìn chân thành của chị, để xuyên suốt qua những khác biệt và thấu vào phần sâu nhất bên trong một con người.

Với "Sông", bảo là chuyện cá nhân tủn mủn thì cũng đúng, mà bảo là chuyện xã hội to tát cũng không sai. Tập hợp những trăn trở đau nhức nỗi niềm của hàng trăm con người, thì tất nhiên ta sẽ có một xã hội thu nhỏ cùng các gợn sóng của nó. Tuy xã hội thu nhỏ trong cuốn tiểu thuyết chắc không thể đại diện cho toàn bộ đất nước Việt Nam, vì chẳng có ai trong đó có vẻ bình thường, nhưng xét cho cùng, định nghĩa về sự bình thường của mỗi người khác nhau, mà nỗi niềm trần thế thì chẳng ai thoát khỏi.

Sau khi đọc xong "Sông", tôi đọc ngay Sputnik Sweetheart của Murakami. Tôi chưa bao giờ ấn tượng nhiều lắm với các tác phẩm của Murakami, nên lần này đọc cũng không thấy thỏa mãn. Trong cuốn này, Murakami cũng nói về người đồng tính, và sự trầm cảm, thậm chí khi đặt song song nhân vật Ân của Nguyễn Ngọc Tư và nhân vật Sumire của Murakami, họ có thể làm hai anh em trong thế giới văn chương. Cùng ôm đau khổ vì tình yêu (đồng tính) không được đáp lại, cùng viết điên dại, cùng trẻ, cùng cô đơn giữa đồng loại và oằn mình với những ám ảnh và cùng dấn thân vào một chuyến đi không có lối trở về, và ở cuối mỗi tiểu thuyết, cả hai đều biến mất, một người tự tử còn một người tự làm mình mất tích. Nhưng tôi vẫn thấy chị Tư sâu hơn, điềm nhiên hơn, và do đó, trăn trở nhiều hơn. Gấp "Sông" lại, tôi cảm giác như mình thực sự đã quen biết nhân vật của chị, và cả đêm giật mình thon thót giữa những dòng chữ ùa về. Tôi như trôi bập bềnh giữa hai thế giới trong sách và ngoài sách. Còn đọc xong Sputnik Sweetheart, mặc dù chiều dài của hai quyển sách cũng gần ngang nhau, tôi chẳng có cảm giác gì.

Cuốn tiểu thuyết gồm rất nhiều câu chuyện nhỏ, chi tiết vụn, không có tình tiết nghẹt thở nào, không có sự sắp xếp tài tình các biến cố để đưa lên cao trào nào, nhưng rất nhiều câu chuyện nhỏ ấy hợp lại thành một quyển sách, cũng như rất nhiều cuộc đời hợp lại thành một nền văn hóa, một xã hội. Nhà văn hay nhà nghiên cứu xã hội cũng chỉ là những cách khác nhau để thẩm thấu, sắp xếp và thể hiện những hiện thực đời sống. Ở Nguyễn Ngọc Tư, con mắt tỉ mẩn của nhà nghiên cứu và tấm lòng cùng nội lực ngôn từ của một nhà văn đã kết hợp để làm nên những trang viết bình thản nhưng đau đáu. Mà lại đẹp.

Tale of the travelling books

Saturday, 3 November 2012 Posted by Rain

There was a farewell party the last night I spent in Nat To village. As the night drew on, guests and hosts alike consumed more and more alcohol. After they finished all rice wine, they switched to cassava rice (ruou can), jar after jar. The men became a bit too pushy and touchy. When they started playing loud music, popped open a new jar, cheered as if they were in a football match and swang with the music, I decided that I had had enough of it, and ran off with the girls.

I spent that night on the bed of my most favourite girl in the group. She is 12, skinny, long hair, probably is more fluent in Vietnamese than all other adolescents I worked with, and definitely a kind, considerate and very thoughtful girl. She actually seems much more mature than her age. Throughout the night, she had silently hid her tears and occasionally held on to my neck as though she didn't want to let go of me.

As I couldn't sleep, my mind wandered to a thought of bringing my books to these children. I could easily visualize how these young adolescents who lack exposure to the outside world yet very curious and eager for new things, would enjoy reading and expanding their minds thanks to my books. But as soon as the thought stirred up, I hesitated. Books are the last thing I want to give away. I donate money and clothing from times to times, but when it comes to books, they are just such a big part of who I am and how my past was constructed that I shuddered at the thought of giving them away.

The next morning, I asked the girl if she thought her friends like reading, and whether they had time for that kind of activity. Kids are busy with all kinds of family duties and domestic work there. They have school for 6 days, everyday from 7am to 5pm, and they take care of younger siblings or nieces/nephews, animals, cooking and cleaning for the girls and catching fish and finding bamboo for the boys. I could tell that her eyes lit up at the thought of having some books to read at home. They have a small "library" at school, which is open during lunch break for a few days a week when the "librarian" feels like doing her job, otherwise it is locked up, and there are only a few books and old newspapers anyway. No one has newspapers at home, TV is rare. They don't even have wired electricity yet. Most use small hydroelectric generators placed in a small stream, so the power is usually not high enough for operating a TV in the evening, when lighting a bulb is much more of a priority.

She said "yes" to my question. Then I asked her if I sent some books, would she be able to take care of them, lend out to other kids, and manage the whole thing. She said yes. I asked if her parents would mind if too many children come to their house and stay there all day long. I started thinking parents and teachers might complain that their children spend too much time reading and neglect other duties. The authorities might even involve, who are you and why are you giving these children the books, what type of books are there, blah blah blah. I was anxious that my colleagues would think I set out a bad example if I give such a special treatment to one village and not the other, which might create jealousy. They might be upset because I acted too good, which makes them not so good in the eyes of the villagers. I was worried about many things.

But she was too excited for me to disappoint her, once I had brought the possibility up. So I told her when I got home I would send her some books, and though they are for everyone, she will be responsible for maintaining them. I knew that moment she was happy, and other kids who heard the news were happy too.

However, when it was time to pack up the books, I almost regretted my decision. These are the books I bought with money I saved up little by little, and have cherished them for over the last 10 years. They are the witness of my growing up, I spent time reading them, thinking about them, and in turn was shaped by them. I put one book in and the other book out. It was like giving away my childhood and my teenager years. I still remember which books were bought on what occasions, where I bought them, or who gave them to me. I flipped through the pages, seeing humidity and dust leaving a faint press on the pages, and recalled how white and fresh they were when I first got them. Each book has a memory behind it. It wasn't just about buying a stack of paper, it was a meeting between us, me and my book, or a conversation. I am just a citizen in their world.

Then I thought of the children, of how much potential they have yet how little opportunities are given to them. Perhaps the books will stir something in their minds, like they did in mine. Perhaps they will be aware of the world outside their village, extend the boundaries of what they can dream, and grow more confident in what they are capable of. The books, left on my bookshelves, are a part of me, but going to them, they can be a part of many more childhood and teenage years. They have served me, it's time for them to go out and serve other young souls and minds.

Finally, I worked up the courage to close a luggage full of books, my most beloved friends and teachers. On my way to the bus terminal where I sent the luggage, I felt the weight on the motorbike, but also the hollowness in my heart. It was like giving away my very blood, and a lot of blood. No matter how much I kept consoling myself that these books are just paper in my home, because I am not very likely to read them again, but in the village they will once again be alive and have the power to open up imagination, which maybe they much prefer than getting old and dusted on my shelf, I still felt cracked. It was like saying goodbye to, not a friend, but myself.

"I am giving what I love to those people I love". The thought came to my mind. Emptiness swallowed me as the luggage disappear underneath the bus. A raindrop kissed on my lip. I drove home alone, hoping that the books will be to the children what they have been to me.

Old book and old man

Sunday, 16 September 2012 Posted by Rain

1. I never write in books, whether they are mine or not. I love books too much to damage them in anyways, turning the pages too roughly, folding corners, spilling water, accidently wetting a book in the rain, the list goes on. I avoid all types of behaviours that may deform books one way or another, therefore of course I can't bring myself to take notes in books. Even in exercise books, when I can, I write in pencil so I could erase them later.

2. When a book comes from libraries, sometimes it will be marked here and there by previous readers. It's always fascinating to realize how many hands the book has passed through, and how many minds have penetrated the words. When a book is older than my grandparents, the pages have turned yellow and even crunchy, I can only let my imagination run wild when trying to think what sort of people have touched this very same object. I hate reading books with highlights in there, green, blue, pink, red, all kinds of colours distract me a lot, because many times someone would find something worth emphasizing which I don't. But I like the notes left on the books when it is a gift. There was one time when I almost cried when lost in the smell of the university library's old dust, I read a page full of loving words from a father for a daughter on her birthday, his hope and aspiration for his little darling. To read those words and to imagine that the two people may as well dead, buried underneath earth, or burned down to ash, the book survives them, to imagine the journal of this very book I was holding in my hands, which bookshelves it has been on, which room it has been kept, which part of the world it has traveled, to feel like I had entered some spheres so private yet had been made public, makes something deep inside me stir, like how the dust dance in an afternoon sunlight ray shone through the window.

3. That's also how I felt when I saw the old man, Mr. Hong, 93 years old, playing a string instrument in a ca tru performance in the Kim Ngan temple on Hang Bac street. There were only an American man, a Canadian woman, my friend and I for the night's audience. The artist group consisted of two singers, three instrument players, and one MC. I was so honoured to be played for by a man with such a wrinkled face. I almost trembled as tears seemed to dwell up in my eyes. He is so old, and I am so young, yet he was playing for me.

The same feeling as when I touch a book more than 100 years old and see handwriting notes faded in its crumby sheets. When I looked at his face I saw history, such a rich and deep history woven from within. And because I was his audience that night, even though I didn't understand all the songs, nor did I come to fully appreciate the music, I felt humble, so young and small in the face of time and history.

But unlike a book, when he ceases living, his stories will vanish.That thought made me sorrowful, in that very moment I should have merrily enjoyed the music.

Đội gạo lên chùa

Sunday, 8 April 2012 Posted by Rain

"Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây"
(Ca dao)

Sau gần một năm ở Canada và tham gia kha khá những buổi liên hoan, thuyết trình trong đó tôi hoặc mặc áo dài hoặc không, đứng trình bày trước một nhóm bạn bè quốc tế về Việt Nam, tôi bắt đầu thấy chán ngán với những hình ảnh tôi đưa ra về đất nước mình. Tôi kì cụi mang theo những tranh Đông Hồ, tôi làm video clip có nền âm thanh là tiếng đàn bầu và những tấm ảnh chụp làng quê và thành thị Việt Nam. Tôi đã nói rất say sưa, và có lẽ là đầy tự hào. Có một bác người Canada nói riêng với tôi rằng: "khi nghe cháu nói về đất nước của mình, bác đã nghĩ ôi trời ơi, cô bé này quả là một người con yêu nước", và một chàng trai người Nhật đã đuổi theo tôi chỉ để nói rằng bạn rất xúc động.

Nhưng quanh đi quẩn lại, những điều tôi có thể nói về Việt Nam chỉ bó hẹp trong áo dài, phở, rặng tre, vịnh Hạ Long, đống rơm con gà, tháp Rùa, hay những khuôn mẫu mà những người làm du lịch đã đưa ra sẵn. Lúc đầu tưởng mớ hình ảnh để miêu tả Việt Nam ngồn ngộn lắm, nhưng chỉ trình bày vài lần, tôi thấy mình đi theo một lối mòn mà người ta đã vạch sẵn để quảng bá cho một sản phẩm. Rồi mỗi khi có người chào tôi bằng tiếng Trung, hay hỏi lại tôi "Việt Nam là ở đâu, không phải là một phần của Trung Quốc sao?" tôi lại phải vật lộn để vạch ra cái ranh giới rõ ràng là rất mỏng manh ấy. Việt Nam còn là gì ngoài những hình ảnh như cô gái mặc yếm đỏ ngồi e ấ bên giếng, đoàn người đi xe máy nườm nượp trên đường, mái chùa cong cong lẫn trong khói sương mà tôi có thể tìm thấy nhan nhản trên Internet?

Tôi đã luôn muốn trả lời cho câu hỏi ấy, có lẽ trước cả khi tôi phát hiện ra những điều mình có thể kể với bạn bè quốc tế về đất nước của mình không vượt ra nổi những khuôn mẫu của ngành du lịch. Tôi muốn biết nguồn gốc của mình ra sao, và nơi xuất xứ của mình nó thế nào. Càng ngày tôi càng nhận thức rằng những gì mình biết quá nhỏ bé, và có lẽ để trả lời cho câu hỏi "Việt Nam là gì?" tôi sẽ mất cả đời.

Tôi tìm được một phần câu trả lời cho mình trong những tác phẩm văn chương của Nguyễn Xuân Khánh. Lần đầu tiên tôi biết đến ông là qua "Mẫu Thượng Ngàn" vài năm trước, và từ khi đó đã ước ao sẽ có ngày tôi đủ trình độ để dịch sách của ông sang tiếng Anh, bởi vì tôi rất yêu cái chất Việt ướt đẫm trong văn của ông. Tôi nghĩ nếu người ta chỉ đọc một quyển sách của ông thôi thì cũng đã trả lời được rất nhiều cho câu hỏi "Việt Nam là gì" rồi. Lần này đọc "Đội gạo lên chùa" tôi càng ngẫm ngợi ra được nhiều điều, và càng thêm yêu ông.

Thiên tiểu thuyết dài gần 900 trang lấy tựa từ một bài ca dao hóm hỉnh. Dù lời hát dân gian kia có vẻ châm chọc, nhưng cuốn sách là một suy ngẫm dài (có lẽ là cả đời người) về Đạo và Đời, rất trang nghiêm mà cũng rất dung dị.

Toàn bộ truyện đặt vỏn vẹn trong có một ngôi làng. Làng là đơn vị xã hội chính của nông thôn Việt Nam, và trước thế kỉ 20, Việt Nam hầu như chẳng có thành thị. Suốt chiều dài lịch sử của mình, mọi biến động của đất nước được hợp thành bởi những ngôi làng ẩn mình dưới lũy tre xanh. Vì thế chỉ cần nói về một ngôi làng và những bão dông quét qua nó, ông cũng nói được những điều ảnh hưởng đến cả xã hội Việt Nam.

Và chẳng có tuyến nhân vật nào là chính hay phụ. Tác giả cứ nhẩn nha kể hết chuyện người này lại sang chuyện người kia, ai cũng xứng đáng được kể tường tận chi tiết gốc gác, và chẳng ai hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt. Nhiều khi một chi tiết đã xuất hiện ở chương trước trong cuộc đời người này, lại được kể lại ở chương sau trong cuộc đời người khác. Với người tốt tác giả không ngợi ca hết lời, với kẻ xấu ông cũng không dìm xuống bùn đen. Cái nhìn của nhà văn hiền lành, vì ông cho tất cả nhân vật của mình ai ai cũng có một chỗ đứng. Ông tẩn mẩn kể nguồn gốc từ đời ông, đời cha, đời chú, những mối quan hệ chồng chéo lên nhau, thằng Chép là con thằng Trắm, cái Mua là con mẹ Xim, thằng Hạ là con bố Xuân, cứ thế, những biến cố xảy ra với người này là nguyên nhân của thay đổi trong cuộc đời người khác. Những câu chuyện nhỏ đan xen vào nhau, giống như những vòng tròn lan tỏa trên mặt ao khi những hạt mưa rơi xuống, vòng này nối vào vòng kia, để rồi tất cả tạo nên một sự rúng động ngầm bên dưới mặt nước.

Đọc ông, tôi cảm giác Việt Nam là một vùng đất nào to lớn và giàu có lắm. Cũng có thể tôi đã thực sự trở thành một người dân làng sau lũy tre trong truyện của ông, đi đến phố huyện đã thấy xa xôi và lạ lẫm. Cũng có thể tại cái cách ông miêu tả những thứ đơn giản một cách cầu kì và nâng niu quá. Tôi luôn nghĩ người viết thành công khi khiến những thứ mình viết về đẹp lên trong mắt người đọc. Nguyễn Xuân Khánh nói đến việc ngoáy tai của những anh thợ cắt tóc và nâng nó lên thành một kiểu nghệ thuật, trong đó người ngoáy tai phải có đôi tay mềm, đôi mắt tinh, sự tập trung tuyệt đối và cả một cái tâm thật tĩnh để lắng nghe từng nét mặt, từng tiếng thở của người khách để biết khi nào tiến khi nào lùi, khi nào nên mạnh nên nhẹ, và làm thế nào để khiến người khách khoan khoái nhất. Ông tả thú uống trà bằng cách hứng nước mưa chảy từ bẹ lá cau, không phải nước mưa múc từ bể, và ấm trà phải được ủ được chuyên thật đúng cách. Ông nói về cách làm sáo diều, cách vót sáo thế nào để tiếng sáo lúc trầm lúc đục, lúc thánh thót bay xa lúc âm vang gần gũi.

Cái giếng trong chùa thì thơm, tiếng chuông trong chùa thì biết run rẩy với lòng người. Cái bánh rán to bằng cái mâm, để cả tuần ăn vẫn vừa giòn vừa ngọt. Cứ thế, những sự vật bé nhỏ đều có những câu chuyện kì thú đằng sau, và người đọc như lạc vào cả một kho tàng những điều kì thú. Vì sự sống ở ngôi làng ấy giàu có quá, nên người ta thấy nó thật bao la, và đẹp. Nguyễn Xuân Khánh tả anh nông dân nghèo đặt đơm cá trên bờ đê, rồi anh vừa ngồi trông đơm vừa ngắm trăng và nhắm rượu với vài con tôm con tép sống chấm cùng mấy hột muối và vài cái lá chanh. Anh nông dân cục mịch, con tôm sống thì có gì lạ lùng, nhưng anh nông dân của ông lại biết cái vị ngòn ngọt của thịt tôm sống hòa với vị chát của lá chanh, cay của ớt, và mặn mòi của muối, với ngọn gió hây hẩy trên triền đê, thế là cái sự ăn uống ấy trở nên đẹp. Hay là cách cô thôn nữ nhuộm áo màu nâu non, cũng là màu nâu nhưng phải là loại lá cây ấy, trộn với loại cỏ dại ấy, thì mới tạo nên thứ màu nâu dù kín đáo nhưng vẫn biết điểm trang cho sức xuân ngời ngợi nơi cô. Có thể cô thôn nữ không đẹp, cái áo của cô cũng chẳng đẹp, nhưng Nguyễn Xuân Khánh làm cho màu nâu non nơi tà áo của cô và cách nhuộm kì công ấy đẹp. Còn tôi thì như mê đi trong những vẻ đẹp trùng trùng lớp lớp ông vẽ ra.

Khỏi phải nói, những người phụ nữ trong văn ông đều đẹp. Người thì mặn mà, người thì e ấp, người lại trong veo, có bà già lẩn thẩn suốt ngày nói chuyện với những con đom đóm thì có vẻ đẹp chập chờn của sự kết nối tâm linh. Hình như vì ông yêu phụ nữ quá nên cả những người đàn bà làm việc xấu trong truyện của ông cũng có lúc đẹp. Người mẹ nghèo bế con đi ăn xin suýt chết đói khi được cứu sống cũng thay da đổi thịt. Bà địa chủ hay chửi bới người làm đi vào cõi chết bằng cách treo cổ tự tử trong áo mớ ba váy lĩnh. Mỗi người trong bọn họ đều có nét đẹp riêng, kín đáo và duyên dáng. Người thì có mái tóc đen nhánh được vấn rất khéo. Người lại có cái gáy trắng tuyệt trần. Người là cái lưng thắt đáy lưng ong. Người lại là giọng hát trong réo rắt. Ở Nguyễn Xuân Khánh tôi tìm thấy sự trân trọng phụ nữ chân thành và sâu thẳm, một điều ít thấy ở những cây bút nam.

Ngoài "Hồ Quý Ly" là tiểu thuyết lịch sử (mà tôi chưa đọc) thì cả hai cuốn còn lại của ông đều lấy tôn giáo làm nền tảng chủ đạo. Một cuốn xoay quanh những câu chuyện về những người tin thờ đạo Mẫu, và cuốn kia, về những người mà số phận buộc họ phải chênh vênh giữa chùa và ngoài chùa, đi vào và đi ra, thoát tục và nhập tục. Tất lẽ dĩ ngẫu mọi thứ trong truyện đều bảng lảng sắc màu kì ảo của hư và thật, truyền thuyết và đời sống. Gốc đa đầu làng là nơi đu võng của các Cô, con hổ được vị sư nuôi hiền lành không làm hại cả người đang tâm giết nó. Tất nhiên là phần Việt Nam mà Nguyễn Xuân Khánh viết là miền Bắc, và nền văn hóa ông miêu tả cũng là đặc trưng của miền Bắc, nhưng tôi nghĩ người Việt ở đâu cũng sống với những câu chuyện mơ mơ hồ hồ như vậy. Có thể họ không tin, có thể họ không nghe, thậm chí chưa từng biết tới, nhưng những đức tin về điều linh thiêng và hướng đến cái Thiện vẫn là một phần chảy trong họ, chỉ là họ chưa nhận ra mà thôi.

Bởi vì Nguyễn Xuân Khánh viết văn rất đơn giản, cả thiên tiểu thuyết dài như vậy ít có câu nào mà người đọc phải vỗ đùi đánh đét tâm đắc, mà ông lại nhẩn nha kể hết người này đến người kia, nên tôi đọc truyện của ông như một đứa cháu nhỏ quẩn quanh bên chân ông mình nghe kể chuyện. Ông chẳng cố gắng chứng minh điều gì, hay tranh luận cho một quan điểm nào của cá nhân mình. Ông chỉ đơn giản kể lại những câu chuyện nho nhỏ, là tập hợp của những số phận nho nhỏ, họ đã lay động thế nào khi một biến cố xã hội xảy ra, và chính họ cũng là những tác nhân thay đổi thế nào. Truyện của ông không gian thì hẹp, chỉ bó gọn trong phạm vi lũy tre làng, nhưng thời gian thì rộng. Trong "Đội gạo lên chùa", thời gian trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, tức là phần lớn của thế kỉ 20, thế nên những biến động đều trải dài theo thời gian. Những con người ấy đã lớn lên, già đi, và biến đổi cùng với xã hội Việt Nam. Đem những câu chuyện nhỏ xếp cạnh nhau như thế, lại khiến người ta thấy rõ tình yêu của mình dành cho điều mình viết về, và yêu luôn cả điều đó, ông khiến tôi nghĩ đến tình yêu trong đạo Phật. Tình yêu không phải hướng đến một đối tượng, mà khi người yêu được tất cả nhân gian, là bản thân người đã trở thành tình yêu. Người viết văn cũng thế, khi họ đã yêu điều gì đó đủ để nó thành một phần của mình, họ không cần phải cố gắng, người đọc cũng sẽ yêu nó và yêu cả người viết.

Phụ nữ và tôn giáo, tôi không biết có phải tôi yêu Nguyễn Xuân Khánh vì ông cũng yêu hai điều này, hay là thật ra, nhờ có ông và sau khi đọc truyện của ông mà tôi mới gọi được tên những điều mình yêu?