Showing posts with label story. Show all posts
Showing posts with label story. Show all posts

As a woman

Thursday, 7 February 2013 Posted by Rain

My mother is smart. She sometimes proudly recalls being the best student in class throughout her schooling, and even now she enjoys learning new things and is a pretty quick learner. She is hard-working. For over 30 years, ever since she stopped going to school, she has been working seven days a week, usually from 7am to 5pm, with no vacations (except for the one weeks of Tet, which she is even busier with all the cooking and cleaning), no sick leave, and no complaints. She is very committed. She holds a strong conviction that whatever someone else can do, she can do too, because we are all humans. This belief was applied to bearing a son as well. Until recently, I have no idea how much time, money and efforts my mother invested in making my younger brother possible. She worked on her diet, her exercise, her period, her routine, her inner thoughts, and who knows what not. Fortunately, she succeeded.

Yet my mother has no friends of her own besides my father's friends and business partners. After she got married, she lost contact with her childhood friends, who also married and departed their natal homes. She has no secure pension for her retirement because she has never been employed by anyone but herself. She has no real property under her name. I remember distinctively one day when I was quite young, my mother frustratingly told my father who somehow really upset her that everything, the house, the motorbike, the bank account, and even the children bear his name, and nothing, nothing is really hers. Now and forever.

My mother is caring. She stayed up all night long in the hospital for a week straight to look after of my grandmother, and of course, never complained. She is as good as, if not even better, than my grandmother's own daughters (aka my mother's sisters in law). I realized for the first time what love is when my father wanted to eat noodle, and my mother got right up from underneath her thick blanket in a cold winter day to cook noodle for him. She cares for us, her children. My older sister, who has been married for over four years now, called my mother in the middle of the night, and few minutes later, my mother was already out on the street going to a hospital because my sister's divorced aunt in law got an accident while her mother in law and her husband were not home.

Yet my mother has no commitment, no priorities, no interest besides those of her family. She never understands why I always insist that she must inform me in advance if she wants me to go somewhere with her because I might be busy doing other things with other people. She has no time for herself, and wouldn't even take a day off when she suffers from a terrible cough, because not opening her kiosk for one day means some money is lost solely for tax. She has no power in decision making in my family, when my house was rebuilt in 2001, even the curtains she picked was turned down by my grandfather. She feels helpless, and maybe indeed she is, as her husband gradually sinks further into the pit of alcoholism, and her son turns into an aimless young man.

As far as I can remember, my mother always tells me and my siblings to study, because only by studying we will get a stable salary, weekends, and independence. She dares not take a day off because no one pays her for a sick day. She is often eaten by guilt as she can't visit her own mother as often as she likes because she has no break, and on a Sunday evening, she is no less tired than a Monday evening. And because she was dependent on her in-laws for a trade in her early 20s, she is always burdened by the fact that her income is never separated from that of the family. She often refers to my aunts and uses them as good examples of how studying can lead women to a good path. They can visit my grandmother every Sunday. They can afford vacations and not to worry constantly about the weather (my mother sells clothes, and a change in temperature can greatly affect revenue for a given week). They can purchase things they like because they have their own money. From what I was told, my three aunts were not as good students as my mother was, but my paternal grandparents were doing well enough to send them to universities. My maternal grandfather fought for the French (he said it was purely for the high wages they paid) and accordingly was considered politically wrong which made university admission impossible for my mother. And my aunts took for granted all the things that my mother yearns for, but can never achieve herself.

So she transferred her wishes to us. I unconsciously learnt to look up to my aunts and uncles, and look down on small traders like my parents. For years, I secretly wished that my friends would see me with my uncles and aunts, those intellectual looking folks, and not my parents. I associated myself with the image of a good student, even of a bookworm, because it seemed noble to me. My early attempt to earn money through small trading (I bought cakes at a bakery I passed by on the way to school and sell them to my classmates who got up too late to eat breakfast) was severely discouraged by my mother. She imprints her message on my mind: "Never be someone like me. Study. Get a decent job. Earn good money. Be independent. Make your voice counts."

I didn't start to examine these assumptions (i.e. earning money as a small business owner is not a good way) when I was in high school already. It was too late to revert the effects. I knew nothing about my family's business and had lost all desire to know because my mother never let us children help her. I was bad at maths and had acquired a fear of numbers. I was no longer interested in trading and never wandered anywhere near an Economics class. My mother told stories and read to me when I started learning to read in grade 1 (something Im not sure if my aunts do for their sons). I seemed good at language, and by then have developed not interest, but at least a sense of duty towards learning and earning good marks. My identity was attached to being a good student. My mother was pleased at the fruits of her labour.

I ventured further on the path of learning, and further detached myself from my parents' working class, this time actively from my own efforts. I felt closer to things my mother no longer understands, such as computers and the Internet. I mapped out ways to raise my own kids someday that resemble nothing the way my mother has raised me. I started wondering why, why a kid born out of a working class like me has such a great desire to grow out of her parents' class. Where does my aspiration come from, and where will it lead me to? Until one day my brother told me he might want to take up the family business and I realized such thought has never occurred to me. Why? Because as my mother's daughter, I have always held dear to my heart the idea that being a woman managing a petite business will never bring me a secure, independent, and fulfilling life.

Or to be more exact, a woman with no formal, paid job, thus no power within her husband's family, thus no life outside of it. Her life-long, greatest project is me. I said so because both my older sister and younger brother are not interested in becoming middle-class intellectuals as much as I am. I absorb her message, and I live her legacy. If one day someone asks me why I am passionate about women and empowerment of women, perhaps I will not tell them this long story, but I will know the answer in my heart. It is because my mother embodies everything I want to be as a woman, and everything I don't want to get out of life as a woman.

Chuyện của núi (1)

Tuesday, 13 November 2012 Posted by Rain

"Hôm nay mẹ em nấu gạo nếp mới, bữa cơm đầu tiên của mùa này. Giá mà chị đến ăn cùng em, nhưng chị ở xa quá."
Qua điện thoại, giọng em nghẹn lại, còn tôi cũng chẳng biết nói gì. Đó là khoảnh khắc tôi biết mình được yêu.

Cô bé học lớp 7, tóc dài đến eo, nhưng trưởng thành hơn rất nhiều tuổi 12 của mình. Khi tôi vọc tay vào mẹt cơm nóng hổi để cùng bóp cơm làm rượu với mẹ em, mới ngơi tay đã thấy em bưng chậu nước để sẵn sau lưng, rửa tay xong ngẩng mặt lên đã thấy em cầm khăn "chị lau đi này". Trẻ con ở núi thường lớn lên như cây cỏ, nên sự nhạy cảm của em đối với tôi rất đặc biệt. Tôi nhìn quanh thấy bọn trẻ ăn kẹo quen tay vứt vỏ bừa bãi,  buông một câu "các em phải vứt giấy vào một chỗ chứ, sao lại để bừa ra thế này", rồi quanh đi quẩn lại quên bẵng mất, lúc sau nhìn lại em đã cặm cụi đi kiếm cái que củi hất hất kéo kéo gom tất cả đống giấy vụn vào một chỗ. Em nói tiếng Kinh tốt nhất trong đám trẻ tham gia nghiên cứu, thích đọc sách đọc truyện, chỉ có mỗi mình em đã từng đọc truyện "Nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn" mà tôi kể cho cả nhóm, và thích học tiếng Anh. Có lẽ vì những điều ấy mà tôi ít là một người lạ với em hơn với các bạn khác.

Chị sang nhà em ăn cơm thăm nhé, cho vui. Tôi lóng ngóng vì không quen leo trèo đường dốc, còn em thoáng cái đã bỏ lại tôi một đoạn xa. Ở núi mặt trời lặn không có đèn, đường đi sang nhà em phải lội qua một con suối, càng về đêm nước càng chảy xiết. Những ngày còn nhỏ có khi em lội nước đến bụng, đến ngực, thậm chí đến cổ. Em đã từng suýt bị lũ cuốn trôi, đầu đập vào tảng đá côm cốp, may mà túm được vào cành cây. Có hôm đi học nhóm về muộn, trời không trăng, em chạy chân không chạm đất, chỉ mong về nhà thật nhanh. Không có đường, bàn chân em thuộc từng vết mòn, từng mỏm đá. Một lần đang đi em giật thót mình thấy một con rắn hổ mang to tướng nằm ngang đường, em cắm đầu vừa chạy vừa khóc, về đến nhà vẫn chưa hoàn hồn. Rồi những bóng cây, những vạt lá, khi đêm đen trùm lên bỗng dữ tợn lạ thường. Những câu chuyện ma được nghe kể lởn vởn trong trí óc, em sợ bị dắt đi, bị đưa đường chỉ lối rồi không tìm được về nhà, nhưng cứ phải đi, không phải vì em không sợ, mà nỗi sợ đã trở thành một phần của đời sống.

Hôm nhà anh trưởng bản nơi tôi ở suốt chuyến công tác mở mấy vò rượu cần, bị nài ép quá nhiều, tôi bỏ trốn ra bờ suối ngồi để khỏi phải uống rượu. Ngồi một lúc, có một chị đi qua rủ tắm, lắc đầu. Một lúc nữa, có một thằng nhóc choai choai chạy lại chọc ghẹo vớ vẩn. Tôi không muốn về, cũng không biết làm gì, vì lúc ra vội quá không kịp mang theo mp3 lẫn kindle. Ngồi một lúc nữa thì có một bóng người tiến lại gần, hóa ra là em. Mắt người ở núi không tiếp xúc nhiều với các thể loại màn hình điện tử nên rất tinh, em nhận ra tôi từ tít phía bên kia suối. Đấy là một buổi chiều kì diệu.

Chị biết không, khi ngồi lên đá thì phải nói, đá đừng làm em nặng mông, để khi đứng dậy không bị mỏi. Tại sao? Tại vì tất cả những hòn đá đã có lúc là người. Thế những người đấy sao lại bị biến thành đá? Em cũng không biết, khi mặt trời ở một vị trí như thế nào đó, thì người biến thành đá. Ngày xưa đá biết nói, cái gì cũng biết nói, con trâu cũng biết nói cơ mà. Có một anh này đi ở cho nhà giàu, chăn trâu cho người ta, nhưng không cho trâu ăn no, nên trâu về mách chủ. Anh ta bèn dắt trâu đến một ông mo, ông mo cho trâu ngửi hương, thế là từ đó trâu không nói được nữa. Thế em nghĩ trâu nói được hay không nói được thì tốt hơn? Không nói được chứ, nếu nói được thì có gì mình làm nó cũng mách.

Em kể chuyện trường lớp, có cô này giảng bài dễ hiểu, thầy kia giảng quá nhanh, chỉ đọc cho chép, có bạn đó bé tí đã thích ăn diện và yêu đương. Rằng em thích đọc truyện, đã từng đọc cả Truyện cổ Bắc Âu, và bố mẹ bảo còn học được thì sẽ cho đi học. Tôi hỏi em nói được tiếng Kinh từ bao giờ, em bảo từ hồi mẫu giáo cô đã nói tiếng Kinh, nhưng em vẫn thích nói tiếng Thái hơn. Em rủ sang bản bên cạnh chơi, ở trên đó có suối rất đẹp. Em dẫn tôi vào một khe nước cây phủ che kín, bướm nhiều màu sắc bay rập rờn trên mặt nước. Chỗ này nước chảy từ khe ra rất sạch, em nói rồi xé một mảnh lá chuối, chụm lại để múc nước đưa tôi uống. Nước ngọt và mát. Gần tết em và các bạn hay lên rừng lấy lá đót để bán cho người ta làm chổi, kiếm tiền ăn tết. Cây đấy nhiều gai, rất dễ chảy máu tay, có khi em kiếm được năm chục nghìn, có khi được vài trăm. Rồi tết đến nếu có bạn nào có xe đạp đến rủ đi chơi, đèo nhau trên đường nhựa, sẽ rất vui.

Tôi cứ dò dẫm đi sau những bước chân thoăn thoắt của em, và nghe những câu chuyện như thế. Em thường đòi đi sau, đòi dắt tay, vì em sợ chị ngã, còn tôi chỉ quen đi đường bằng thì lóng ngóng đến khổ sở với những vách đất dốc trơn tuột không có chỗ nào để đặt chân hay bám tay vào. Ngày xưa khi trời hạn lâu, có một nhóm người đi vòng quanh bản, đến từng nhà gõ cửa để xin mưa, nhà ấy sẽ lấy cái cành cây vẩy mấy giọt nước, hoặc nếu lạnh quá lâu dân mong trời ấm lên mỗi nhà sẽ hươ hươ môt cành củi đang cháy giòn. Như thế có hiệu nghiệm không? Có chứ, nhưng bây giờ không còn ai làm như vậy nữa rồi. Em kể về những người dùng mìn đánh cá ở dưới suối, nên những con cá to ngày xưa đã chết hoặc bỏ đi hết, giờ chỉ còn cá nhỏ xíu ở chỗ nước nông. Rồi những người làm đường vạt núi, khiến nước suối đục ngầu, tôi nhìn theo ngón tay em chỉ và mơ màng tưởng tượng ra một con suối đã từng rất rộng, rất trong, giờ dấu tích còn lại chỉ là một vài lạch nước ngập bùn chảy leo lét.

Ong đang chuyển nhà đấy chị. Đâu đâu? Bay qua rồi. Sao em biết? Thì em nghe thấy, tiếng rì rì của rất nhiều con ong bay cùng một lúc. Đôi tai thành phố đã quen với bao nhiêu năm còi xe và tiếng người chát chúa của tôi không còn đủ nhạy cảm để nhận ra tiếng những lớp khí chuyển động dưới cánh của hàng vạn con ong ở một góc nào đó ẩn sâu dưới rừng đại ngàn nữa. A, có cầu vồng kìa! Tôi chỉ vào một vạt màu ấm áp ở phía xa. Em vội vã níu tay tôi. Đấy là một con rồng đang ngủ, đừng có chỉ vào nó, nó có thể bắt lấy hồn ta. Nếu muốn chỉ thì phải nói "nhà con gà con vịt kìa", để đánh lừa con rồng không biết là mình đang nói về nó. Ở ngọn núi đấy ngày xưa có con rồng, rồi nó bay về trời từ lâu rồi...

Em bao trùm tôi trong một không gian bàng bạc sự kì ảo của những truyền thuyết, những câu hát cổ bằng thứ tiếng Thái đã không còn được dùng nữa, của những niềm tin rất vững chắc về rồng, về những linh hồn lẩn khuất trong ánh trăng bóng nước, về những sức mạnh kì vĩ và con người chỉ là một phần nhỏ bé, trong cách em chỉ vào một gốc cây, một tảng đá, một góc trời và giảng giải với rất nhiều hồn nhiên, pha lẫn sự luyến tiếc, nhưng vẫn cứ dịu dàng. Dịu dàng và ảo diệu như cái khoảnh khắc em dạy tôi một bài hát trẻ con bằng tiếng Thái ở đầu hồi, giọng em trong vắt, nắng vàng tan chảy trong những mảng xanh trải dài, và tôi cuống quýt lấy máy ghi âm ra ghi lại những phút ấy, mà biết rõ ràng không có công cụ nào, hay bút mực nào, có thể lưu giữ hay diễn tả lại một khoảnh khắc rất đẹp đến mức thần tiên như vậy.

Đôi khi tôi tự hỏi có phải vì tôi hay cho kẹo, tôi là người lạ, hay vì lẩn quẩn bên cạnh tôi em sẽ được bạn bè kinh nể hay không. Nhưng nghĩ lại, rất có thể em quý tôi bởi vì tôi thật lòng thích thú với những điều em kể, vì tôi có thể lắng nghe không biết chán những điều người lớn đã cho là chuyện xưa còn trẻ con cũng không quan tâm nữa. Bình thường một đứa trẻ ở nông thôn không có nhiều cơ hội để nói, nhất là với người lớn, vì họ còn quá bận rộn với chuyện kiếm ăn, hoặc không hề nghĩ con mình có điều gì đáng nghe. Tôi cũng không biết rõ nguyên nhân là gì, tôi thích nghe chuyện còn em thích kể chuyện, có lẽ điều đơn giản ấy kéo chúng tôi lại gần nhau. Em quyến luyến tôi hơn tất cả những đứa trẻ khác trong nhóm, và hôm cuối trước khi tôi rời bản, em đã níu cổ tôi, rớt nước mắt mà rằng "Chị Vân ơi, em sẽ rất nhớ chị."

Còn tôi thì vô cùng biết ơn cô bé mười hai tuổi mỗi sáng phải đi bộ một tiếng để tới trường, lội suối băng núi, từ lúc bốn tuổi đã biết nấu cơm giặt quần áo và lên nải tìm trâu, những mùa giáp hạt đôi khi nhà thiếu cơm ăn em sẽ nhường phần của mình cho em trai còn bản thân ăn sắn, và thích học tiếng Anh để "sau này ra ngoài đường lớn người ta nói em còn hiểu", vì em đã cho tôi thấy cuộc đời như thế thật ra rất vui tươi.

(Và sau đây là bài hát "Con chuồn chuồn" trong quá trình dạy và học)

Chuyện của phố (7)

Friday, 7 September 2012 Posted by Rain

Bài này viết từ lâu lắm rồi, chẳng nhớ là từ bao giờ nữa, chắc là năm 2008, đọc lại vẫn thấy những điều mình viết ngày ấy đến giờ vẫn không thay đổi gì, nên cứ post lại lên đây.

Ông Bản bán xổ số trước cửa nhà tôi từ trước khi tôi bắt đầu có kí ức. Buổi sáng ông ngồi ở vỉa hè bên đường, buổi chiều ông ngồi phía nhà tôi. Lúc nào ông cũng cười. Trẻ con đứa nào cần sang đường chỉ cần đứng một chỗ hét thật to "ông Bản ơi" dù đang đông khách ông cũng bỏ đấy hớt hải chạy ra, dắt nó sang tận nơi và còn dặn với theo đi cẩn thận. Mỗi lần đi đâu về tôi lại có nụ cười rạng rỡ của ông chào đón. Nụ cười đấy bao nhiêu lần làm mệt mỏi bực dọc trong tôi tan biến. Nụ cười hiền lành như của ông tiên ông bụt. Nụ cười chân thành đi từ mắt vào tim. Nụ cười có hàm răng trắng xóa bao nhiêu lần đã khiến tôi khe khẽ hát mà tưởng mình vui vô cớ. Ông đứng lên bấm chuông hộ tôi, miệng nói mấy câu đùa, tay phe phẩy quạt nan quạt với vài người tôi vài cái. Nếu bố mẹ hay chị tôi đi đâu về, ông còn đứng lên lấy cái cầu sắt ra để giúp, hoặc dắt xe hộ. Đám cưới của các cô rồi đám cưới của chị tôi không khi nào ông vắng mặt. 
Nhà ông nghèo nhưng sống rất trong sạch. Ông ở trong cái ngõ khét tiếng nghiện hút, tệ nạn, lớp thanh niên tầm tuổi chị tôi đã chết gần hết vì tiêm chích, còn lớp trẻ tầm tuổi tôi cũng không có ai theo được hết lớp 12. Thế mà ông bà với lương hưu của mình và thu nhập từ gánh xổ số của ông đã nuôi được hai anh chị khôn lớn, học hành giỏi giang rồi đi làm cho công ty nước ngoài tự lập được cả. Ông nội tôi thường bảo, đấy chính là tấm gương "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
Bao nhiêu năm rồi không ngày nào ông vắng mặt. Chẳng ai quản lí cũng chẳng ai thôi thúc, nhất là từ ngày các con ông thành đạt, tiền bạc cũng không phải là vấn đề quá cấp bách nữa, thế mà ngày nào ông cũng bình thản ngồi bên bàn xổ số của mình ngắm dòng người đi qua, tươi cười với hàng xóm láng giềng. Ngày tết ông cũng không nghỉ. Tôi hỏi thì ông bảo "đây là mình đi chơi chứ có phải đi làm vất vả gì đâu mà cần nghỉ hả cháu". Nhà tôi có một thói quen chẳng biết hình thành từ bao giờ, mùng 1 cứ đi chúc tết một lượt về là dừng lại mua của ông 10 vé xổ số. Là lấy may đầu năm, là một cách mừng tuổi hay một món quà nghĩa tình?
Tôi không hiểu ngồi ở vỉa hè với một bàn xổ số không đông khách thì niềm vui ở đâu ra để ông lúc nào cũng mỉm cười? Tôi không hiểu là một người nghèo khó bản lĩnh ở đâu ra để ông sống ai ai cũng phải nể phục? Tôi cũng không hiểu nghị lực ở đâu ra mà ông bám trụ và sống với nghề bán xổ số bao nhiêu năm trời, mặt đường giữa trưa thì nóng như đổ lửa, ngày mưa thì những xe máy rồ ga phóng qua bắn bùn vào người vào mặt ông. Tôi nhớ những cô những bà bán xổ số bịt khẩu trang kín mít phờ phạc ủ dột ngồi xiêu xiêu vẹo vẹo. Thế mà ông Bản của tôi lúc nào cũng vui vẻ. Không biết ông không cảm thấy mình khổ hay ông chỉ không để người ngoài cảm thấy mình khổ? 
Người lao động Việt Nam đúng là rất lạc quan và mạnh mẽ. Càng lớn tôi càng thấy những người xung quanh mình là những tấm gương tuyệt vời, những con người ẩn chứa sức mạnh tiềm tàng mà không biết đến khi nào tôi mới học hỏi được. Chẳng phải lúc nào một nụ cười cũng là dễ dàng!
Sáng nay tôi thấy ông bơ vơ đứng nép vào một góc. Không còn bàn xổ số nữa, chỉ có một cái ghế gỗ chỏng chơ. Gương mặt rạng rỡ quen thuộc phảng phất nét buồn. Hôm nay là ngày đầu tiên người ta thực hiện cấm bán hàng trên vỉa hè. Ông chỉ còn cách cho vé số vào túi áo, đợi những người quen ít ỏi vô cùng dừng lại để bán người một tờ, kẻ hai tờ. Ông không còn cái bàn gỗ với cái bị xanh xanh đựng báo và tấm bìa "xổ số kiến thiết thủ đô" đã bạc phếch nắng mưa nữa. Ngày trước người ta thực hiện cấm để xe trên vỉa hè, bao nhiêu hàng ăn đã phải đóng cửa vì khách không có chỗ để xe nên không dừng lại. Ngày hôm nay người ta cấm luôn cả hàng rong để thực hiện tuyến phố sạch đẹp, ông nội tôi bảo "chính sách toàn triệt vào người lao động thôi". Ông nội nhìn sang đường, bóng người bạn già thường chia sẻ với mình chén nước trà xanh giờ bồn chồn đi lại, cố tìm một dáng hình quen thuộc trong dòng người tấp nập kia, những mong người ta dừng lại. Dừng lại trước một ông già ngồi trên cái ghế gỗ chỏng chơ. Ông như buồn phiền, ngượng nghịu khi thiếu đi cái bàn kính với những chiếc vé xếp hàng ngay ngắn phẳng phiu thơm phức của mình. Một ông già bán xổ số mà lại không có cái bàn, không bày ra những chiếc vé số. Chẳng phải giống như một cô thiếu nữ đoan trang hiền lành mà bị người ta lột mất áo ư?
Tôi đạp về gần về đến nhà thì thấy ông đang đi bộ ngược chiều. Cất tiếng chào ông vẫy tay cười với tôi. Thốt nhiên tôi thấy lòng đau như cắt...

Chuyện của phố (6)

Posted by Rain

Đối diện nhà tôi là một hàng bánh cuốn trứng, không biết có từ bao giờ. Chỉ nhớ là hồi tôi ba tuổi, mỗi sáng trước khi đi học mẫu giáo mẹ hay dắt tay sang đường và hỏi "hôm nay con muốn ăn gì?". Ngày đó lựa chọn ăn sáng rất phong phú, và cũng rất rẻ. Xôi thì có xôi lạc, xôi dừa, xôi ngô, xôi xéo, phở cũng có phở gà, phở bò, bún lại có bún riêu, bún ốc, bún mọc, bún thang. Vậy mà có lần trong ba tháng liền, sáng nào câu trả lời của tôi cũng chỉ là "con ăn bánh cuốn trứng".

Tôi không thích bánh cuốn Thanh Trì, một trong những đặc sản nức tiếng của Hà Nội cũng vì hàng bánh cuốn này. Bánh cuốn Thanh Trì mỏng tang, tráng sẵn để ăn nguội với nước mắm có chả quế, kèm một chút ruốc tôm rắc lên trên, và vài sợi nấm hương thái chỉ vừa đủ làm lớp bánh cuốn trắng đục có thêm chút màu sắc và hương vị. Còn hàng bánh cuốn trước cửa nhà tôi có nhân thịt nạc và nấm hương lẫn hành ở giữa chiếc bánh, không xếp cả lớp bánh dày rồi mới cắt nhỏ, mà tráng từng chiếc bánh một. Lúc nào cũng có hai nồi hấp, khi một lớp bột mỏng được dàn đều trên mặt một chiếc nồi thì bánh trên nồi kia cũng vừa chín tới. Vừa đậy vung nồi này lại mở ngay nồi kia, thêm chút nhân vào giữa và cuộn lại. Mỗi lần rải bột chỉ khoảng ba mươi giây là bánh chín, một đĩa bánh cuốn đầy chỉ cần chưa đến hai phút. Bánh cuốn vừa ra lò nóng hổi, nước chấm có hành khô, nếu khách nào thích ăn thêm một quả trứng thì trứng cũng được làm tương tự.

Ngày đấy, hàng bánh cuốn được bán bởi hai mẹ con. Bà mẹ có lẽ khoảng 60 tuổi, nhưng vẫn còn khỏe mạnh, đầu vấn khăn đen, miệng ăn trầu đỏ. Cô con gái câm điếc ngồi tráng bánh, bà cụ cắt những chiếc bánh cuốn trắng mềm đã xong xuôi, bốc một chút hành khô bỏ lên trên, chuyển bát nước chấm cho khách, nói chuyện rổn rảng và thu tiền. Rồi bà cụ yếu đi, không ra ngoài bán bánh nữa, cô con gái câm điếc duy trì hàng quà một mình. Ngày ngày cô vẫn dọn hàng, bán từ 6h đến khoảng 10h sáng, mùa nóng cũng như mùa rét, chỉ phục vụ bánh cuốn trứng, hàng không đông nghẹt, cũng không quá thưa khách, cứ đều đều như nhịp sống của con phố chẳng được xếp vào loại cổ kính cũng không hiện đại hào nhoáng với lớp lớp nhà cao tầng. Phố có vài nhà cao vót lên, có vài nhà vẫn mái ngói đỏ nghiêng nghiêng xếp lớp. Cô bán bánh cuốn lặng lẽ và cũ kĩ làm công việc của mình, phố có người đến rồi đi, có những khách quen già rồi khuất bóng, có những em bé mới được sinh ra, tất cả họ nếu đã ghé qua góc phố này thì đều có lúc thưởng thức món quà sáng mà họ gọi là "bánh cuốn cô câm".

Vì cô không nói cũng không nghe được nên hàng của cô yên ắng. Phần lớn khách chăm chú ăn, so với hàng bún riêu bên cạnh lúc nào cũng líu ríu, nhiều khi hàng bánh cuốn có vẻ trầm mặc và ưu tư, tưởng như khách ăn đang vừa cắm cúi chấm chấm nhai nhai vừa suy nghĩ về sự đời. Tất nhiên cũng có tiếng những bà mẹ trẻ quát con ăn cho nhanh không được ngậm như thế còn đi học kẻo muộn. Tiếng hàng xóm láng giềng chào nhau khi mới gặp. Tiếng một bác trai nhai nhóp nhép vài cọng rau sống, nhấm một ngụm rượu trắng và "khà" một cái khoan khoái. Rồi tiếng kéo cắt chả lách cách, tiếng túi nilon buộc bánh cuốn cho những khách mua mang về sột soạt, và tiếng cô ú ớ ra hiệu giá tiền cho khách. Hiếm khi có khách qua đường, nên phần lớn khách ăn của cô đều vô thức học được cách ra hiệu đơn giản để nói họ muốn ăn gì cho ngày hôm đấy. Những khi cả hai bên không hiểu nhau, cô bán bánh chưng rán và bà bán nước bên cạnh sẽ xen vào làm phiên dịch, vì đã ở gần nhau quá lâu, họ luôn hiểu cô bánh cuốn muốn nói gì.

Cô nhớ khẩu vị của tất cả các khách quen, bao gồm cả tôi, mặc dù có những thời gian tôi đi vắng nhiều năm không sang hàng của cô ăn được. Người nào thích nước chấm mặn, nước chấm chua vị giấm, hay nhiều hành khô, ít hành khô, bánh cuốn không nhân, trứng già hay lòng đào, cô đều để ý và nhớ cả. Khách nhiều người cũng khó tính, họ có nhiều yêu cầu đặc biệt và có người không đúng như vậy thì bắt cô phải làm lại cho bằng được. Nhưng phần lớn dân ở phố đều đã quen, và cô cũng thuộc hết ý thích của từng người, nên chỉ cần đặt mông ngồi xuống chiếc ghế gỗ dài, là cô đã bắt tay vào tráng bánh cuốn cho họ. Không có tiếng đòi hỏi, không có người cằn nhằn, cô chỉ dựa vào trí nhớ và sự quan sát để biết nên phục vụ ai trước ai sau. Mọi người cứ yên tâm ngồi đợi đến lượt mình, những cháu bé cần đi học sớm cô ưu tiên phục vụ trước. Mỗi lần cần tăng giá cho phù hợp với giá cả thị trường, cô lại vất vả giơ ngón tay ra hiệu cho từng người một, nhưng sau đó họ đều nhớ đĩa bánh cuốn kèm chả hoặc không có chả, nhiều nhân hay ít nhân, một quả trứng và ba chiếc bánh cuốn của mình giá bao nhiêu, và lần sau cứ trả cô như thế.

Không phải thứ quà quê được cố tình làm cho thanh cảnh trong những hội chợ nhằm "bảo tồn và phát huy văn hóa", cũng không phải loại quà sáng đắt sắt ra miếng trong những cửa hiệu bóng loáng máy lạnh ro ro, cô bán bánh cuốn trước cửa nhà tôi ngồi trong một con ngõ bụi bặm, phục vụ các thực khách trung thành của mình, thiếu đi tiếng nói để kết nối, nhưng sự có mặt bền bỉ của cô hàng ngày bên chiếc bàn gỗ và cái ghế gỗ dài, bên cạnh những sự đổi thay, đến và đi, khiến cho ngày hôm qua vẫn tồn tại trong ngày hôm nay, và khi tôi hai ba tuổi một mình qua đường để ăn sáng, vẫn cảm thấy con phố này có tiếng nói líu lo của chính mình ngày ba tuổi "mẹ ơi hôm nay con ăn bánh cuốn."

Chuyện của phố (5)

Thursday, 23 August 2012 Posted by Rain

Bác là người Hà Đông, mỗi ngày đi đi về về hai tuyến xe buýt để lên Hà Nội bán dạo. Sáng sáng ra ruộng thăm đồng, cho lợn gà ăn no, dọn dẹp nhà cửa, thổi cơm nấu nước, ăn một bữa chắc dạ rồi bác đạp xe ra bến xe buýt đầu làng, và khoảng 1h chiều thì đến khu phố cổ trung tâm thủ đô, bán cho đến 6h chiều lại lên xe buýt về, 8h tối mới ăn cơm, và hôm sau lại tiếp tục như thế.

Làng của bác có nghề làm nón, ngày xưa khi nón còn là một vật dụng cần thiết hàng ngày, mỗi lần đi bán hàng bác mang theo cả một chồng ba bốn chục cái, đi bộ ròng rã khắp phố phường. Ngày xưa bác đi mò cua bắt ốc, cứ ba giỏ ốc đổi lấy một bát gạo, dần dần bắt mãi tôm cua cũng vơi đi, con cái lại đông lên, bác lần hồi theo bạn bè vào thành phố bán nón. Khi ấy chưa có xe đạp, bác cùng chồng đi bộ mỗi ngày 20 cây số, cả đi cả về là 40 cây, thường khi trở về nhà đã nửa đêm, lúc ấy đàn con đã ôm bụng đói đi ngủ hết vì không chờ nổi bố mẹ. Bác lọ mọ thổi lửa nấu cơm, gọi con dậy ăn, vừa ăn vừa đập muỗi, rồi cả nhà lại dắt díu nhau đi ngủ.

Nón dần dần không còn là trang phục thường ngày nữa. Dân thành phố không đội nón mà chuyển sang đội mũ nan, mũ vành, mũ lưỡi trai, rồi mũ bảo hiểm. Những chiếc nón trắng muốt dân làng bác đan ra ngày xưa nức tiếng, bao nhiêu lái buôn ở các vùng miền khác đến đặt mua, thì giờ đây không còn ai cần đến. Từ một vật dụng của đời sống, chiếc nón nơi phố thị trở thành mặt hàng du lịch. Bác chuyển sang bán cho những người khách nước ngoài đã quen mắt với hình ảnh cô gái Việt Nam cười e ấp sau vành nón, muốn có một vật kỉ niệm nào đó mang về đất nước của họ. Họ muốn nón nhỏ hơn, bác làm nón nhỏ hơn. Rồi ai đó nảy ra sáng kiến làm những chiếc nón nhỏ xíu treo lủng lẳng trên một sợi dây như những quả chuông trắng muốt. Bây giờ những chiếc nón chỉ còn ngự trên đầu những người nước ngoài và những chị những cô hàng rong mưa nắng dãi dầu. Người Hà Nội không còn ai đội nón.

Chúng tôi chỉ là những người nông dân, một năm cấy hai vụ lúa may ra đủ ăn, còn bao nhiêu thứ phải chi tiêu, ở nhà thì lấy đâu ra cho đủ. Thôi cứ đi bán thế này, được ngày nào hay ngày ấy, đến khi nào nhọc mệt quá không đi nổi nữa thì đành chịu, chứ bây giờ còn khỏe chân khỏe tay cũng không ngồi chơi được. Cô xem, đi bán hàng lương thiện cả, mà lúc nào cũng phải mắt trước mắt sau, sểnh ra một cái là công an với trật tự phường bắt về đồn, mà mỗi lần bị phạt mấy trăm nghìn, chỉ hai lần như thế là cụt cả vốn lẫn lãi. Vào trong đấy họ bắt viết kiểm điểm, nhiều khi họ bắt lúc chúng tôi đang chuẩn bị về, mà nếu ghi đúng như vậy họ sẽ mắng, bắt phải viết lại, thậm chí còn đá cho mấy cái vào chân, mà giầy cứng đá vào khoeo chân nên đau lắm. Chúng tôi phải viết vào kiểm điểm rằng tôi bị bắt khi đang bán hàng, khi đang đeo bám khách du lịch, làm xấu hình ảnh đất nước.

Giọng của bác nghẹn lại, nước mắt tự dưng ùa ra tới tấp trên khuôn mặt mới phút trước còn hồ hởi. Mấy ngày gần đây trên các báo lớn đăng một loạt tin về những người bán hàng rong quanh khu phố cổ làm phiền khách du lịch và khiến họ có ấn tượng xấu về Việt Nam, rất nhiều người đọc báo để lại bình luận trách móc lực lượng công an, tại sao ăn lương nhà nước mà có mỗi một vấn đề năm này qua năm khác không giải quyết được.

Thật ra chúng tôi không nài ép khách du lịch. Nhiều khi tôi biết họ thích cái nón hay cái quạt, nhưng họ không biết hỏi, tôi cũng không biết mời, nên đành đi theo họ vài bước để lấy cái quạt màu khác, hay cái nón nhỏ hơn ra cho họ xem. Có những lúc họ thích cái quạt màu hồng, tôi lại mời cái quạt màu xanh, chỉ cách có vài bước chân có người khác lôi quạt hồng ra, họ lại mua của người kia, trong khi tôi cũng có quạt hồng để trong túi. Hoặc nhiều khi họ muốn mua cái nón cỡ khác, nhưng không biết làm thế nào để ra hiệu, tôi cũng không hiểu ý, vừa đi qua góc phố họ lại mua đúng cái nón như tôi có của một cửa hàng đắt tiền, mà cửa hàng ấy cũng lấy lại nón của dân làng tôi. Thuận mua thì vừa bán, tôi không ép buộc ai mua cái gì bao giờ. Tôi không hiểu sao có bao nhiêu người móc túi hay cướp giật của khách du lịch thì công an lại lờ đi, còn chúng tôi làm ăn lương thiện lại bị truy đuổi và đối xử như tội phạm?

Rất nhiều gia đình ở làng bác đã sinh sống bằng nghề làm nón mấy đời nay, bây giờ  nhiều ruộng đất bị thu hồi để mở đường, xây xí nghiệp, nghề cũ cũng không còn người tiêu thụ, họ trở thành một lớp người trôi dạt, phải bám vào những con đường ở Hà Nội để kiếm sống. Không ai muốn làm người xấu, những người nông dân bần cùng chọn cách bán hàng cho khách du lịch ở phố cổ lại càng không. Họ sinh sống ở rìa thành phố, luôn bị gạt ra ngoài trong mọi kế hoạch phát triển, và ngay khi lặn lội bao nhiêu chặng đường để bươn chải ở trung tâm thủ đô vài giờ đồng hồ mỗi ngày, họ vẫn tiếp tục bị gạt ra ngoài, và có lẽ mãi mãi sẽ chỉ là những thân phận bên lề, không hiểu tại sao mình bị ghét bỏ, không hiểu tại sao mình bị đối xử như một thứ cặn bã xã hội muốn chùi sạch, không hiểu tại sao người thành phố cau mày gọi họ là "đồ nhà quê", và buồn hơn cả, là không bao giờ biết thắc mắc những câu hỏi khó hiểu ấy với ai để được giải đáp.

Chuyện của phố (4)

Saturday, 11 August 2012 Posted by Rain

Anh hiền lành và nhỏ nhẹ, nhìn giống cậu học trò tối ngày bút nghiên hơn là một anh bán cafe dạo. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh dắt xe đạp đi qua Thọ Xương, đã để mắt đến nhưng không gọi. Lần thứ hai, cũng đi ngược chiều trên con ngõ nhỏ ấy, có lẽ mắt tôi nấn ná ở chiếc xe đạp màu kem và thùng xốp đá trắng toát lâu hơn một người đi đường tình cờ, nên bước chân anh cũng chần chừ theo. Là một người bán rong, nhất là một người bán rong cương quyết không rao, không mời chào vì lúc nào cũng ngại làm phiền đến người khác, có lẽ chiến thuật duy nhất của anh trong những ngày đầu là để ý thật nhanh và thật kĩ ánh mắt của những người xung quanh.

Anh là người bán rong có tuổi nghề trẻ nhất trong những người tôi đã từng nói chuyện, cũng là người có lẽ có câu chuyện đặc biệt nhất. Quê gốc Thái Bình, sinh sống từ nhỏ tại Đà Lạt, anh nói giọng Bắc, nhưng không biết vì sống ở cao nguyên hiền hòa quá lâu, hay vì cay đắng chưa đủ để làm bản chất thư sinh biến mất, nên chất giọng Bắc ấy mềm chứ không đanh, cũng không khàn đi vì nắng gió. Quán cafe "Mộc" ở Đà Lạt mở ra với mong muốn làm một thư viện mini cho các bạn nhỏ bị sập tiệm vì anh cương quyết cấm hút thuốc. Trôi dạt về Hà Nội, anh không đủ vốn để làm gì to hơn, nên nhờ bố chuyển cafe Arabia đã rang theo đường ô tô, tự tay xay, rồi đạp xe quanh phố bán rong từng ly một.

Anh là một người bán rong giàu lòng tự trọng, thậm chí đôi khi niềm tự trọng ấy dường như được đẩy lên thành lòng tự tôn hiếm thấy ở những người sinh nhai bằng cách bán hàng trên phố. Anh thà mua loại cốc giấy tự hủy làm từ bã mía và ngô chứ nhất định không dùng cốc nhựa Trung Quốc chỉ rẻ bằng một phần mười. Anh thà cuối ngày đổ cafe đã xay nhưng không bán hết chứ nhất định không để lại dùng tiếp ngày hôm sau. Anh thà dắt xe lững thững, lướt qua con mắt của bao người như một kẻ vô hình, chứ nhất định không mời chào, chèo kéo. Anh bán cho những người hàng thịt, hàng rau, những người buôn thúng bán bưng ngoài chợ và chịu lỗ, chứ không chịu tăng giá để bán cho những người vốn đã giàu và thừa khả năng thưởng thức cafe ở những chốn đắt tiền hơn.

Anh là người lạ đầu tiên tôi chia sẻ với anh giấc mơ của mình về quán cafe và những câu chuyện, nơi người ta không chỉ đến để uống và gặp gỡ bạn bè, mà còn tự làm lành và cảm thấy mình là một phần của một điều gì đó vĩ đại hơn. Tôi được lắng nghe, còn giấc mơ của tôi được truyền lửa, lần đầu tiên tôi thấy mường tượng về không gian nho nhỏ ấy gần hơn một chút, trong khi anh chỉ ngồi im chẳng nói gì. Nghe xong anh bảo, chỉ cần ba người là có thể bắt tay vào làm được. Nhưng tôi không chỉ muốn một quán cafe, tôi cũng không muốn một quán cafe đông khách, tôi muốn nơi ấy trở thành một cộng đồng tinh thần, nên tôi cần thời gian.

Cũng như anh không chỉ muốn là một người bán rong. Anh muốn thay đổi khẩu vị của những người uống cafe, và mang loại cafe hiếm hoi quý phái vốn chỉ dành cho những nơi sang trọng đến từng đầu đường xó chợ để phục vụ cho những người không có thời gian lẫn tiền bạc để nhâm nhi cafe sáng. Có lẽ khi họ cảm nhận được sự ngọt ngào của loại cafe chè không hóa chất không hương liệu, cuộc sống của họ cũng sẽ vì thế mà bớt nhọc nhằn đắng cay hơn chăng?

Tôi không uống được cafe, nên tôi không thể hiểu niềm đam mê của anh với loại thức uống ấy. Nhưng tôi hiểu, và chia sẻ với anh về khát khao mang lại thay đổi. Anh muốn người Việt, và đặc biệt là những người bình dân, biết đến, hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp của cafe chè. Anh bảo khách hay chê "cafe gì mà nhạt thế", "không vị" vì họ quen thứ cafe pha tạp đắng chát. Mỗi lần gặp lại thấy anh đã cải tiến thêm một chút, lúc đầu chỉ là một chiếc thùng xốp để đá tạm, sau một tuần đã thành một chiếc thùng cứng cáp hẳn hoi; rồi thêm một cái khay di động gắn vào ghi đông, khi pha cafe cho khách sẽ mở ra (giống như khay ăn trên máy bay), xong thì gập lại, vài ngày sau nữa lại thấy anh có thêm chiếc khăn xô để lau sạch những giọt cafe vương ra trên miêng cốc, trước ngực đeo tạp dề, hai tay đeo găng nilon. Thay đổi thói quen của một người đã không dễ, thói quen của cả một xã hội lại càng khó. Nhưng thay vì tốn giấy mực để phân tích sự khó khăn ấy, và kết luận câu quen thuộc "không thể làm được", anh đã bắt tay vào làm, và có lẽ mỗi cốc cafe bán ra hàng ngày, cũng giống như một ngọn nến được thắp lên, dần dần những vòng quay của bánh xe đạp anh rong ruổi khắp phố sẽ cháy bùng thành một ngọn lửa rực rỡ.

Chuyện của phố (3)

Wednesday, 1 August 2012 Posted by Rain

Chị phải được phong là "đại sứ văn hóa" mới phải. Xung quanh gánh miến cua của chị, thực khách ngồi húp xì xụp giữa trưa hè nắng gắt bao gồm ông tây bụng béo, mấy chị viên chức văn phòng mặc váy vừa ngắn vừa bó ngồi lên ghế nhựa hở cả khoảng đùi trắng phớ, và cũng ngay cạnh đấy là đôi ba bác bán dép, bán rau. Xe máy đỗ lại, xe chở dép xếp vào một bên, ai đến trước phục vụ trước, ai đến sau thì chờ, ta cứ ăn cái đã!

Chị bán bún, miến, bánh đa đỏ, tất cả đều với cua, hoặc chan canh hoặc trộn khô, ở quanh quanh khu vực Ngõ Huyện, Thọ Xương. Khách ăn đều ngồi ngay trên đường, hoặc trên bậc cửa chon von. Chị vừa luôn tay bốc rau, cắt giò, xúc cua, vừa luôn miệng nói chuyện với khách, hầu như không giây nào ngừng hoạt đông. Một bát miến cua đầy đến tận miệng, với bao nhiêu là cua, rau, giò, chả cá, chị chỉ tính có mười tám nghìn. Cộng thêm tính sạch sẽ, những chồng bát ăn xong chồng chị xách đi xin nước của một nhà gần đấy rửa đâu ra đấy, chứ không phải lấy một cái giẻ cáu bẩn nhơn nhớt quẹt qua như những hàng ăn khác, nên chị thu hút được đủ loại khách hàng. Người ta ngồi bên gánh miến cua của chị vì họ chia sẻ tình yêu với món ăn ấy, và nhu cầu chăm sóc cái bụng đói của họ. Không kể màu da, tiếng nói, địa vị xã hội, miễn có mười tám nghìn trong túi là khách sẽ được chị phục vụ tận tình bất kể nắng mưa.

Chị hay xưng "cậu - tớ" với tôi, và những lúc vãn khách còn bẻ cho tôi cả thanh kẹo lạc, để ăn cho vui miệng. Chị kể, không giấu diếm niềm tự hào dâng đầy trong đôi mắt sáng lấp lánh, dân ở đây có kẻ thấy chị bán hàng đắt khách nên giả vờ ra xin túi nilon, rồi ngó nghiêng xem chị có những nguyên liệu gì. Nhân dịp Tết chị về Nam Định, họ cũng mở hàng miến cua, trong nhà hẳn hoi, nhưng mà chẳng có khách. Đến khi chị lên Hà Nội lại, khách quen mách nhà kia nó mở hàng bắt chước mày, nhưng chúng nó làm chán, lại tính đắt lắm, nên tao chẳng ăn, mà sao mày về lâu thế, thèm ghê. Chị đã bán hàng trong khu vực này được năm năm, mùa hè một nồi nước mùa đông đến hai nồi, nhiều hôm mưa muốn ở nhà ngủ mà khách gọi điện léo nhéo, không chịu nổi đành phải dậy làm cua đi bán hàng.

Chị không chỉ bán tại chỗ, mà khi khách có nhu cầu, chồng chị để bát vào khay, đạp xe đi đưa ở các khu phố xung quanh, bệnh nhân nằm lâu trong bệnh viện Xanh Pôn khối người nghiện món bánh đa cua của chị, vài ngày không ăn là không chịu nổi. Anh làm chân chạy vặt cho chị, rửa bát, xếp ghế, gánh hàng. Ngày xưa chị đi bán đồng nát 10 năm, người có 47kg mà gánh đến 90kg nên bị sụt đĩa đệm, nếu cứ tiếp tục làm việc nặng sẽ bị liệt toàn thân. Chị đã phẫu thuật một lần rồi, và bây giờ ngày nào cũng phải uống thuốc, mà có lẽ cũng chỉ là thuốc giảm đau để cầm chừng, chứ quả thực không có nhiều tiền hơn để chạy chữa đến nơi đến chốn như người ta.

Mỗi ngày anh chị dậy từ 2-3h sáng, chị ở nhà làm cua còn anh đi mua rau. Giò và bún miến người ta chở đến tận nơi, hết lại gọi. 6h sáng chị đã có mặt ở chỗ quen thuộc, nồi nước sôi bỏng sẵn sàng phục vụ những vị khách ăn sáng sớm nhất. Chị bán đến 5-6h chiều, về đến nhà ăn cơm xong chỉ có đi ngủ, mà cứ vơi khách một chút là đã gà gật vì chẳng hôm nào được nghỉ quá 6 tiếng. Hai đứa con trai ở quê với ông, chỉ có hai vợ chồng chị bám trụ đất này, có gánh miến cua mà cũng nuôi được một nhà năm miệng ăn. Năm nay thằng lớn vừa thi đại học, tôi bảo "cậu cả mà đỗ rồi lên đây học thì chị còn lao đao lâu dài", chị nhấc mông dậy kéo ghế hẳn ra ngồi cạnh tôi (trước đấy hai chị em ngồi đối diện vì chị ở sau gánh hàng), chị hùng hồn kể rằng làng nhà chị là quê ông Trường Chinh, ở đấy có truyền thống hiếu học, trẻ con bây giờ đứa nào cũng đại học hết, thế hệ của chị còn nghèo còn dốt thì phải chịu chứ, bây giờ chúng nó không chịu đi làm thế này đâu. Vất vả thì mình cũng phải chịu, chẳng nhẽ lại để đời con cũng giống đời mình.

Dân phố miệt thị những người như chị là "bọn nhà quê", đặt bản thân họ vào vị trí trung tâm, và tự coi họ là tinh hoa của nền văn hóa. Chính phủ coi những người nhập cư như chị là vấn đề của xã hội, làm hỏng sự "văn minh" của đường phố, gây cản trở giao thông của những người thành phố bận rộn thời gian quý như vàng. Trông vào ruộng không đủ sống, lại càng không đủ cho con tiền học thêm, hai đứa một tháng gần một triệu. Chị thật thà đến nỗi có ông tây không biết tiếng Việt, chị đã hết giò không cắt được nhiều như mọi khi, cũng khăng khăng giảm giá bút miến đầy ứ còn mười lăm nghìn. Ông tây thấy rẻ quá thì vô cùng ngạc nhiên, có cô nhân viên khách sạn đang ngồi ăn bên cạnh dịch câu được câu chăng là chị lấy rẻ vì hết giò, thì ông tây lại càng cảm kích vì cuối cùng cũng gặp được người không nghĩ da trắng là giàu có, ra sức dúi vào tay chị tờ hai chục. Đang giằng co thì thấp thoáng có xe công an từ phía xa, hai vợ chồng chị hốt hoảng chạy hàng vào ngõ bên cạnh. Trong lúc bối rối, chị cầm chồng bát mà tưởng chồng ghế nhựa, vứt xoảng một cái đến nỗi mảnh bát vỡ cứa cả vào chân chảy máu tóe loe. Hai chú công an lừ lừ đi lại, thấy có người nước ngoài ngồi đấy bèn bỏ đi. Cũng may, không thì hôm đấy chị lại chẳng có lãi.

Chị kể sự tích cái sẹo trên bắp chân cho tôi, tay vẫn thoăn thoắt bốc bún bốc giò, miệng vẫn cười, chốc chốc dừng lại hỏi khách thích nhiều hành hay ít, trần bún kĩ cho mềm hay tai tái cho dẻo, vừa đưa bát cho khách xong đã cúi xuống nhặt mấy mẩu giấy ăn các cô nhân viên văn phòng vừa phủi đít đứng lên vứt lại, tỉ mẩn bỏ vào một cái xô nhựa chị kẹp giữa đôi thúng. Lúc ấy nắng chiếu xiên xiên, bát gạch cua của chị ánh lên màu đỏ chói gần như lấp lánh, rất lạ.

Chuyện của phố (2)

Tuesday, 31 July 2012 Posted by Rain

Bạn Nấm 23 tuổi, có lẽ cao khoảng 1m30. Thường mỗi khi gặp chỉ thấy cái đầu bạn lấp ló sau chùm bóng  lúc nào cũng như sắp tuột khỏi tay để bay lên trời, nên cũng không cảm thấy bạn thấp lắm. Sau khi biết là bằng tuổi nhau, tôi chuyển sang xưng hô "bạn - tớ", nhưng không biết vì quen hay để thể hiện sự tôn trọng mà bạn vẫn tiếp tục gọi tôi là "chị".

Bạn Nấm hay đứng bán bóng ở đài phun nước bờ Hồ. Cứ đi qua hay đứng lại một chút mà nghe bạn nói chuyện và cười đùa với những người bán bóng bay khác thì tưởng bạn chỉ là một cô bé 16 tuổi vô lo nhất trần gian. Cá heo nhé, hay là ăng ri bớt, em có cả con chim màu xanh, chị có lấy không? Sự hiền lành và trong trẻo của cô gái ấy vẫn chưa bị việc bán buôn nơi góc đường làm lu mờ thì phải, nên bạn không chèo kéo, không nài ép, không nói thách, chỉ mời khách khi họ hỏi, và cười.

Một tay lúc nào cũng giơ thẳng đứng lên trời vì bị chùm bóng đủ cả siêu nhân công chúa Pikachu trái tim xanh đỏ kéo. Tay kia nắm lấy một thanh tre, đầu thanh tre buộc một chùm bóng cầm tay, bóng này không bay nhưng mà có buộc quả chuông nên kêu leng keng, trẻ con rất thích cầm chơi. Bạn người Bắc Ninh, lên Hà Nội từ năm 16 tuổi và cũng bán bóng được gần 6 năm rồi.


Em chắc là có duyên bán bóng bay ý chị ạ. Hồi đầu tiên em lên đây là đi giúp việc cho một nhà chủ, vì ở quê em là chị cả, còn 5 đứa em nữa cơ, nên bố mẹ em bảo đi làm còn phụ bố mẹ nuôi các em. Đợt đấy cứ mỗi lần ra ngoài đường em thấy cái gì cũng lạ lắm, sao mà lắm người lắm xe thế. Rồi em nhìn thấy những người ta cầm bóng bay đi bán ngoài đường này này, em cứ nghĩ bụng cầm thế nhỡ chẳng may bóng bay lên trời thì sao, rồi cầm lắm thế bán đến bao giờ mới hết. Nhưng mà em cứ hay ngắm vì bóng bay vừa nhiều màu, lại nhiều hình, có lần em thấy một cô công chúa mặc váy xòe bay lên trời đấy.

Có cả một đội quân bán bóng bay đứng ở đài phun nước bờ Hồ. Cứ mỗi lần có người dừng lại, hoặc có vẻ muốn mua bóng, là ít nhất hai ba người sẽ xúm lại hỏi han. Tôi cũng chẳng nhớ tại sao tôi đã mua bóng của bạn Nấm, hôm đấy tôi mua một con Angry Bird màu đỏ, ba mươi nghìn về cho cháu Nhím, mà lúc mang về thì cháu đã về mất, một tuần sau là bóng xịt, chim đỏ không bay lơ lửng được nữa bị tống vào thùng rác.


Đi làm, xa nhà lần đầu tiên nên em rất nhớ bố mẹ và các em. Em cứ đợi nhà chủ đi là em lại lấy điện thoại gọi điện về nhà. Đến cuối tháng em bị mắng té tát, và bị trừ lương vì gọi điện nhiều quá. Một thời gian sau em đánh vỡ một cái bát, mà nhà chủ nói mãi, còn xúc phạm đến bố mẹ em ở quê, lúc đấy em xin nghỉ việc, nhưng không dám về nhà mà cứ đi lang thang ở ngoài đường cả buổi chiều. Đến chập tối thì có một chị đi qua, chị ý hỏi em có chỗ ngủ chưa, không thì về chỗ chị ý ngủ. Chỗ chị ý có bao nhiêu là bóng. Ai cũng bảo con bé này bé tí thế thì có làm nổi việc nặng không? Cuối cùng em xin các chị ý cho đi bán bóng cùng.

Nghe chuyện của bạn mà tôi rùng cả mình. Có bao nhiêu cô gái như thế, đi theo một người phụ nữ tốt bụng như thế, và đã bị rơi vào nhà chứa, bị ép thành gái bán dâm, và vĩnh viễn bị cướp mất con đường làm người lương thiện? Từ tốt đến xấu có xa xôi gì đâu. Chỉ cần là một cô gái trẻ, bơ vơ, bối rối, và không có chỗ để quay về. Cô gái đang cười rất tươi đứng trước mặt tôi đã có một ngã rẽ may mắn, và đang kiếm tiền chân chính bằng những trái bóng đủ màu đã từng khiến cô ngẩn người đứng ngắm đến nỗi suýt bị xe đâm, nhưng cuộc đời cô cũng hoàn toàn có thể đã rẽ sang ngả khác.

Nấm chọn nghề bán bóng vì nó nhẹ, phù hợp với khổ người hạt tiêu vì bạn không thể gánh những thúng hoa quả nặng đến năm sáu chục cân như các chị các cô khác. Còn một lý do nữa, là đi làm thế này bạn có nhiều tự do hơn so với đi làm nhà máy hay giúp việc gia đình. Bạn Nấm không thích về quê, và khi tôi hỏi đã bị giục lấy chồng chưa, bạn chỉ lắc đầu lè lưỡi. Lựa chọn của cô gái ấy cũng có thể là sự phản kháng lại một tương lai cố định: lấy chồng, đẻ con, nuôi con, nuôi cháu. Mỗi ngày bạn đếm từng người khách mua bóng, biết là hôm nay mình bán được mấy con Kitty, mấy con cá mập, và mỗi buổi chiều sớm, khi đứng xếp hàng bơm bóng ở chủ lò, bạn lại nhìn mây đoán trời nắng hay mưa, vì nếu bơm nhiều mà bị mưa bất chợt, bóng bị ngấm nước sẽ hỏng hết.

Buổi sáng bạn Nấm đi dọn nhà thuê, tiền công được vài chục. Buổi chiều đi bơm bóng, chiều muộn đi rong vài phố rồi tối đứng ở đài phun nước. Đêm khuya, tầm 11h, mới rảo bước đi về. Trưa nào cũng ăn mì, đến nỗi mấy chị ở cạnh phải thốt lên khen ngợi tài ăn mì gói ngày này qua ngày khác. Tối ăn linh tinh, hàng gì đi qua thì ăn hàng nấy. Lâu lâu về thăm nhà một lần. Thinh thoảng đang đứng lại có một đôi cô dâu chú rể cùng đoàn tùy tùng ra chụp ở đài phun nước, tiện thể mượn chùm bóng bay làm nền, trêu chọc nhau cười rộn rã.

Có một lần em đang mải bán hàng cho một chú mua bóng cho con gái, thì có một ông hỏi "bóng bán thế nào đây". Em ngước lên thì nhận ra là ông phó phường Hàng Bài. Ông ý túm lấy tay em rồi giằng bóng. Em giằng co một lúc nhưng vì ông ý là đàn ông nên không giật lại được. Mọi người ai cũng xin tha nhưng ông ý không nghe. Bóng của em bị thả lên trời hết. Lúc đấy người em như không còn tí sức lực nào, chẳng biết làm gì nữa. Em ngồi bệt xuống đường, nước mắt trào ra như suối. Có người cho em năm chục, người cho một trăm. Lúc đấy em vừa ra, còn chưa kịp ăn gì, mà miệng đắng nghét chẳng ăn nổi nữa. Em thất thểu đi về, hôm sau lên cơn sốt. Chỗ bóng bị thả mất em phải trả nợ đến mấy tuần sau mới hết.

Bạn Nấm có hàm răng rất đều, mỗi tuần tự cho phép mình đi đắp mặt một lần, hay mua kem đãi các chị bán bóng cùng nếu là người mở hàng đầu tiên, và đã nói chắc như đinh đóng cột với tôi rằng "em tin vào lựa chọn của mình".

Chuyện của phố (1)

Posted by Rain

Ngay lúc đấy, tôi đã ước giá mình có một chiếc máy quay ở trong tay để ghi lại những bước chân thoăn thoắt của bà cụ. Chúng tôi đi phía sau bà dọc phố Cầu Gỗ. Bà lão nhỏ thó, nhăn nhúm, cong queo, đẩy một cái túi có gắn bánh, bên trong chất đầy những thứ hàng lỉnh kỉnh, mà đi không cần nhìn trước sau. Trong khi chúng tôi ngó ngang ngó ngửa vì đường rất chật, thì bà cứ đi băng băng như đang bay trên mây. Có lúc tôi tưởng  bà là nước, len lỏi vào những khe hẹp giữa một chiếc ô tô và vài người đi xe máy, mất hút trong một đám đông những người trẻ tuổi nhuộm tóc xanh đỏ lênh khênh trên những đôi giầy cao chót vót, rồi thoắt một cái bà lại hiện ra từ đằng sau họ, và mải miết đi. Tôi cắm cúi đi theo, tự hỏi không biết đến bao giờ bà mới dừng lại.

Trong ấn tượng của tôi, những người già hoặc đi khoan thai, chậm rãi, hoặc bước khó nhọc nặng nề. Nhưng cách bà bước đi rất đặc biệt, vì bà tập tễnh, tưởng như chân này nhấc lên là có thể dẫm đè lên chân kia ngay lập tức. Vậy mà không, cái lưng cong và đôi chân đã rất yếu ấy không hiểu lấy sức mạnh ở đâu ra mà cứ điềm nhiêm rảo bước, đẩy cái xe hàng ở phía trước, và lách rất khéo qua những con phố ken dầy người một tối cuối tuần.

Cuối cùng, bà dừng lại ở dưới chân một cửa hàng bán trang sức và đồ lưu niệm ngay cạnh bờ Hồ, rồi tỉ mẩn nhặt những thứ hàng từ trong túi ra xếp lên hai cái mẹt tre. Vài chai nước khoáng, C2, vài phong kẹo cao su, vài túi hạt hướng dương, vài thỏi kẹo ngọt, vài bao thuốc lá, và vài quả mận đựng trong một cái rổ nhựa con màu xanh. Bà sắp xếp khoảng nửa tiếng, trong thời gian ấy chúng tôi trò chuyện với một cô bán mã thầy bên cạnh, vì cứ đứng giương mắt nhìn khi bà đang bận bày hàng thì cũng thật kì cục. Ở cái tuổi mà người ta được phép run rẩy và vụng về, cái mẹt trước mặt bà vẫn đâu ra đấy. Tóc bạc, răng đen, lưng còng, da tay như không còn bám vào xương nữa mà gập lại thành bao nhiêu nếp gấp, bà bó gối ngồi dựa lưng vào khoảng tường trước cửa hiệu đèn sáng lóa.

Ngày nào bà cũng bán hàng ở đây từ 8h đến 3h sáng, đẩy hàng ra rồi lại tấp tểnh đẩy xe hàng 3km để về chỗ ở trọ. Bà đã ngoài 80, quê ở Nam Định, và hiện giờ không còn người thân nào ngoài cô con gái ở quê đã túng bấn lại còn đông con. Câu chuyện bà kể cho chúng tôi là về ba người con trai, họ đều nghiện rượu, bà đều cố gắng vun đắp rất nhiều cơ hội để những cậu con trai ấy thay đổi, nhưng họ đều lần lượt chết. "Tất cả tiền tôi làm ra cô ạ, chúng nó đem đi uống rượu hết, rồi chết hết." Bà rời quê ra Hà Nội để làm ăn, vì con mà lụi bại, bám trụ lại đất này để mong con sẽ nghĩ khôn ra, nhưng rồi những cậu trai ấy đều đốt đời mình vào rượu.

Tôi hỏi bà về nhiều thứ khác, nhưng dường như chẳng có câu từ nào lọt vào tai bà, ngoài những cái thở dài
"chúng nó nghiện rượu, tôi cũng cố gắng, nhưng mà cũng hết". Bà có một cái đài cũ, do một cậu bán bóng bay biếu, để ngồi nghe những lúc bán hàng. Thỉnh thoảng có một bác xe ôm mua một điếu Vina lẻ, tự bỏ một nghìn vào cái mẹt của bà, tự lấy thuốc lá, tự châm. Một người khách du lịch mua chai nước, có lẽ muốn hỏi chuyện gì đó, nhưng bà chỉ móm mém cười.

Tiếng đài kêu rè rè, bà bảo cũng không tốn pin lắm đâu. Mỗi ngày tôi lại đi mua thêm vài thứ, phong kẹo, chai nước, gói hạt dưa. Tôi hỏi đêm khuya như thế bà đi về một mình có sợ không, bà bảo già rồi có gì nữa mà cướp, tôi chẳng sợ gì cả. Thỉnh thoảng có mấy chú nghiện gặp tôi thì tôi đưa bao thuốc, các chú ấy lại đi. Đông cũng như hè, bà ngồi dựa lưng vào bờ tường và hướng mặt đón những nắm bụi và vệt đèn đường vàng vọt hắt lên.

Mỗi ngày tôi ăn một bữa cô ạ, còn đâu thì ăn cái bánh mì cũng đỡ đói. Già rồi cũng không tiêu tốn gì nhiều. Công an cũng không đuổi vì bà già, với lại có cái gì đâu mà bắt. Tôi lại hỏi bà có khi nào về quê không, thì bà chẳng nói gì nữa. Và lại tiếp tục câu chuyện về những cậu con trai.

Tôi nghĩ lúc ấy mắt bà đã không còn nhìn thấy tôi, tai bà cũng chẳng nghe được những lời léo nhéo đang phát ra từ cái đài cũ. Người già sống trong quá khứ, có lẽ chỉ chớp mắt một cái là bà đã thấy ba người con nghiện rượu của mình. Bà ngậm ngùi, nhưng không có vẻ trách, cũng không có vẻ buồn. Ngày xưa bà làm công nhân trong nhà máy của nhà nước, hết bao cấp nhà máy giải tán bà mới lên Hà Nội vừa để kiếm việc, vừa để cho con ăn học, mong là gần chỗ đô hội thì chúng nó sẽ sáng dạ ra. Bà bắt đầu bán hàng từ những năm 90, lúc đấy đường phố còn thưa người lắm.

Bà 84 tuổi, ngày nào cũng đi đi về về gần chục cây số, chân thấp chân cao thoăn thoắt bước trên đường. Chỉ riêng việc bà bán hàng 7 tiếng mỗi ngày, bất kể nắng mưa, không vui, không yêu đời nhưng cũng không nghĩ đến chuyện chết, tôi đã cảm phục lắm.

Mây là mây ơi

Sunday, 10 June 2012 Posted by Rain

Mây là mây ơi
Suốt ngày rong chơi
Chẳng bao giờ nghỉ
Lãng du khắp trời

Lục lam chàm tím
Trắng xanh đỏ hồng
Là mây mây đó
Lững lờ trên không

Từng giọt lộp bộp
Mưa gọi ríu ran
Thân phận mây nhỏ
Tan hợp, hợp tan

Mây mãi lang thang
Chân trời góc bể
Em ngắm, em kể
Thêu thành ước mơ

Lớp 6, lần đầu tiên viết thơ đăng báo, chẳng nhớ đầu đề là gì, đại loại tứ thơ đầu tiên vang lên trong đầu là "Mây là mây ơi" bắt chước ca dao "Trâu ơi ta bảo trâu này"

Rồi viết thành một bài thơ ngăn ngắn bốn khổ, đến bây giờ chỉ còn nhớ ba. Một khổ ở giữa không hiểu sao không tài nào nhớ lại được. Những bài đăng báo lần sau lần nào cũng giữ lại, thế mà bài đầu tiên lại vứt mất. Sau khi được đăng báo bố mẹ mở một trận ăn khao linh đình. Con bé được tặng mấy quyển sổ, mở đầu cho rất nhiều năm về sau suốt ngày được tặng sổ, sách và bút

Hôm nay đi về nhà, mệt phờ râu sau một tuần làm việc chẳng có ngày nghỉ. Nhớ lại bài thơ cũ. Tư nhiên ngộ ra, cái hồi 11 tuổi mình đã nghĩ đến tên mình, là mây, và là một thực thể vô định, bay chẳng bao giờ nghỉ cơ mà. Năm 18 tuổi lần đầu tiên được đi máy bay, cảm xúc chới với đến nỗi vừa đi vào phòng chờ một mình đã trào nước mắt, và nhìn mây từ trên cao xuống, mới thấy mây và biển chẳng khác gì nhau, và khi thay đổi điểm nhìn, không còn gì là cao thấp, cũng chẳng còn ranh giới. Không còn để bấu víu, ngoài những đám mây cứ trôi lững lờ mãi ngoài kia.

Có khi là mệnh rồi cũng nên. Thế là phải Đi, mặc dù không phải là nam nhi cần thỏa chí tang bồng. Bài thơ trên chỉ có khổ đầu và khổ cuối giữ lại tứ thơ của năm 11 tuổi, mọi câu chữ còn lại là của tuổi 23.

Story telling

Tuesday, 7 February 2012 Posted by Rain

In order to tell, first one must listen .In order to write, first one must read. In order to share, first one must collect. In order to die, first one must live. 

1. When I was three, I had an imaginary tiny friend. This friend didn't have a name or a gender, I just knew that this friend was always with me wherever I went. I set aside a bit of water when I bathed, and the friend slept on one side of my pillow as well. I never talked to my friend out loud, so no one ever suspected of an imaginary existence, but I clearly remembered trying to take good care of this friend in any way I could.
I used to think about a crystal house all the time, too. A house with all the furniture made of crystal, sparkles in the sun. Even my clothes in a crystal wardrobe were made of soft crystal that didn't break when I wore them. Same with towel, toothbrush, even toilet paper. My obsession with sparkling stuffs started really young!

When I was ten, I thought about Doremon whenever I was late for school, wishing I had him as a friend so he could use his "freeze time clock" to make everyone stop. Before an exam, I thought about his time machine, which could help me go forward to see answers given after the test. When I was fifteen, I thought about Harry Potter, wondering if someday an owl would bring me a letter as well whenever I got fed up with this ordinary world.
Some time later, I don't know when, I stopped thinking about them all together. Not only I no longer let my imagination run wild, I also forgot my life-time favourite "modern fairy tales". Trees no longer waved at me, flowers no longer smiled at me. They started becoming just trees. As simple as that.

2. The first time I realized, and was recognized, as having some writing skills was in a class-contest in grade 3. It was a free-style composition, whose topic was "describe a typical morning in your school". All students were divided into groups of four, they voted for the best in their groups, these again were voted until the best three were found. I was awarded a pen and a paper made medal for the first prize. Throughout school, I often received good marks in essay writing, but mostly because I memorized lectures well and managed to consume  many volumes of books.
My first poem was published in a local newspaper when I was in grade 6. My family threw a party bigger than I expected to celebrate the occasion. I had poems and short stories published on the same newspaper throughout secondary school, but I believed that newspaper really lacked content and published whatever was sent to them. Poems seem less of creativity than a play of words, as long as you know how to put a right word in a right place and follow certain rules, you have a little poem.

At ten, while reading a short piece of writing in my Vietnamese literature text book, I told myself  "a writer is defined as someone who makes the ordinary beautiful". Somehow this sentence formed itself, and rooted somewhere deep down in my mind, only surfaced many years later in university, third year "culture and society" class, when I found out that George Simmel, a few hundred years before, said something very much a long the line: an artist is someone who isolates an object from its background and makes it special.
So I knew I wasn't alone in that wandering thought.

3. A blog on yahoo 360 was trendy in grade 11. I used it carelessly, obviously thought no one would be much interested in a random girl's rambling about usual teenage problems. To my surprise, strangers stopped by, not only they read my "online diary" once, they actually came back. I still remember the first reader who wasn't already my friend in real life, it made me feel special, even powerful, that I could attract someone totally unrelated by means of writing about my own life, which in the first place was none of their concern.

I was thrilled whenever I logged in my blog and saw a new comment. I became so addicted. I checked the page view every ten minutes. As more and more strangers became interested in my writing, the blog no longer served as my diary alone. The line between writing for myself and writing for others was blurred to such a great extend that sometimes I wondered if I wrote in one way because I actually thought so or because people would like it. During university years, I would wake up in the middle of the night so often that I began to always go to bed with a pencil and some pieces of paper, because once a good thought appeared, it didn't leave me alone until it jumped out of my head to be born as words on paper. I wrote on my hands, on napkins, on the back of my notebooks and some random places I can't even recall now.
But one thing I came to grasp, was a great satisfaction when I completed a piece of meaningful writing. How did I define "meaningful"? It was when I felt relieved and fulfilled after finishing the process of writing itself, even before sending it to the great void out there. It came from within, and there had never been anything that resembles such feeling a bit.

4. In a four hour chat this evening with Trang, I told her about a story telling group I briefly joined three months before I left Peterborough. They meet once a month in the basement of the public library, a place hardly meets any requirement to be a gathering spot for story tellers. Despite the cold floor, the bright neon lights, the hard plastic chairs, we sat in a circle and lost ourselves in stories, told by professionals and amateurs alike. My friends in Canada always tell me Im a good story teller, but I didn't know until then there exists such profession, you can tell story and earn money. When a group listen together, personal boundaries cease to exist. They all participate, become a part of the story, yet at the same time, each and everyone has a unique picture of the story in their heads. Words brought me back to imagination. We laughed and cried, low and high, stories sprang to life.
In grade 5, a teacher told her class, which I happened to be sitting in, that "a great story reflects the common story of that generation". If people find some pieces of themselves in your writing, then you have succeeded. Great legends are passed on because they are the most common truth or wishes simplified and encoded. People keep telling their children old fairy tales because these tales contain in them what is applicable to all, at least in some parts of their lives. And from times to times, friends share with me what keeps them coming back to my blog is seeing their thoughts in my words. Sharing my personal ideas attracts similar individuals, which shows I am not alone, as long as I speak out my words.

5. Trang, a passionate salsa lover, shared with me some day she wants to open a cafe where good Latin music will be played. And I, naturally, shared with her about my dream of a space where good stories will be told. I will tell great legends from all over the world, an ordinary story, my own story, your story, someone else's story, or just a spark of daydream that escapes my consciousness too fast. People will come, they will listen, and they will tell. Together we will let our imagination run wild, our imaginary friends will come back, leaves will once again wave at us, flowers will smile at us, and we will become one in our different versions of a same story.
Humans understand and react to reality. Only God* create reality. To tell a story is to create a new reality, no matter how temporary it lasts. To participate in a story, to live in another reality, is to reach out to our inner god-like quality
......or to be crazy.

* By God I don't mean any specific figure, but any super-natural beings higher than humans, from fairies and witches who can materialize objects out of thin air to religious gods. Even as Buddhism preaches about the "desired heaven" as nirvana - nothingness, only the Buddha and those reach enlightenment can achieve this  complete void, which can be argued to be a different form of reality as well.

Women are like grass

Tuesday, 15 November 2011 Posted by Rain

1.      She is the only daughter of a single mother. Her mother fell sick with poly- arthritis and became paralyzed when she was still a little girl. Her father left them and justified his decision by the pressure of having a son to continue the family line. “It’s better to fail two women than to fail all my ancestors and endure the weight they place upon my shoulders.” He probably had thought so.  She takes care of her mother ever since, and when it was the time for her to marry, she herself made a tough decision, perhaps much tougher than the one her father had made. She chose to never get married, in order to be with her old mother who cannot make any single body movement without help. She has a son, though, the result of a deliberate plan. She knew for sure the short-term contracted worker briefly passed by her life would never come back and claim the child, which works perfectly for her, because she does not have to leave her mother alone to follow the norm of moving into  husband’s family, but also have a child to fulfill her desire to be a mother. A single woman in a rural village, with a meager income of working in the construction site everyday and paddy fields, successfully takes care of both her paralyzed mother and young son. In a sense, she defeats fate, sickness, and the cruelty of patriarchy, and thrives on her own power, as whenever we see her, we always see a glowing smile on her face. 

2.      Unlike other single women in her village, she is very open about her family situation. But like most of them, she looks much older than her age, for all the burden, stress and pain she suffer from an unhappy marriage. At 42, she looks like a 60 years old woman. Her husband left her after the first child, who of course is a girl. He married another woman much younger than himself, had another three daughters, and desperately wanted a son, came back to her once more. Tolerant and scarifying, just like many other Vietnamese women, she forgave him, together they had one more child, who again is a daughter, and to completely prove his unfaithfulness, the man left once more, probably in the search for a son. Since then, she raised her two daughters on her own, with little support from family because they are just as poor. Most of her teeth have fallen off due to poor health, and with no access to opportunity and means of production, her brilliant daughter had to give up her dream of becoming a teacher because they couldn’t afford paying for university. She struggles, but she determines to send her second daughter to school, at least all the way through high school, because she values education and doesn’t want them to follow her path.

3.      She has a very complicated situation, but a very cheerful personality despite her life tragedy. She divorces her first husband, with whom she has 2 children. The first son lives with his father. The son has married, has one daughter but got divorced and the baby girl is now living with her mother. He is very much a playboy and sometimes comes to his mother to ask for money. The second daughter, Thủy, dropped out at grade 6. Thủy  is also divorced. She says her daughter is slow, but it’s common for divorced women to be conceived by villagers as not intelligent, slow or lazy. Thuy has started working in a factory about 20km from home a month ago and now she rents a room to stay there. Her youngest daughter is from another man. They have never been officially married, and now he is living in a province very far from Hanoi and doesn’t support her in anyway.

She was trafficked to China for 2-3 years and no one knows how she managed somehow to escape. Someone kidnapped her, the villagers reported to local police but no real effort was spent to search for her, probably because no one cared enough. After she came back, the Women’s Union helps by appealing their members to contribute their meager income to help her build a small house. All her children’s land is in her first husband’s village and the only piece of arable land she inherits is from her father.

4.      The stories of these three women, although a bit outstanding from an average circumstance, are not that striking or rare. They reflect the hardship Vietnamese women endure, especially women in rural areas. Being at the low end of a patriarchy system, women’s welfare are not considered important, and most of the time, that’s what they think of themselves, too. The men leave them for various reasons, most of which are not their faults. They struggle and suffer but never blame or complain. On the one hand, they are weak because they accept what is done to them, but on the other hand, they are strong and even unbreakable. They are like grass, small and ordinary, but they can bear all the storms and survive whatever obstacle life throws at them.