Showing posts with label religion. Show all posts
Showing posts with label religion. Show all posts

Não trái, não phải

Saturday, 27 September 2014 Posted by Rain

1. Hôm trước vào list những bài nói chuyện được nghe nhiều nhất ở TED, xem bài My stroke of insight. Hết bài, mình ứa nước mắt, một trong những trải nghiệm có thể nói là "it is so beautiful it brings tears to my eyes". Cô Jill, một bác sĩ chuyên nghiên cứu về não và thần kinh, kể lại về buổi sáng cô tỉnh dậy và thấy mình bị đột quỵ. Bà nội cũng bị đột quỵ giống hệt như vậy, chỉ có điều bà không thể kể lại cho người khác biết bà đã cảm thấy thế nào, vì bà ngã trong nhà tắm, không ai biết trong nhiều tiếng liền, và cũng có thể vì bà già hơn, và vì y tế của Việt Nam không tiên tiến bằng Mỹ.

Trong bài nói chuyện, cô Jill có nhắc đến một điều mình đã biết từ lâu, nhưng mở rộng lên hẳn một tầm cao mới. Bán cầu não trái điều khiển nửa cơ thể bên phải, ngôn ngữ, là nơi tổng hợp dữ liệu, kết nối những thông tin đến từ thế giới bên ngoài qua các giác quan với quá khứ và tương lai. Bán cầu trái là nơi cho người ta biết về bản thân như một thực thể tồn tại độc lập và duy nhất. Bán cầu não phải điều khiển cơ thể bên trái, hình học, không gian, tiếp nhận thông tin và chỉ tập trung vào xử lý hiện tại. Não phải cho người ta biết họ là một phần của một vũ trụ xung quanh.

Khi trải qua cơn đột quỵ, cô Jill bị một cục máu đông tắc ở bán cầu não trái (giống hệt bà mình). Tay phải cô bị liệt, cô bị mất ngôn ngữ, nhưng cùng lúc đó cảm thấy mình hoàn toàn hòa nhịp với thế giới xung quanh. "Vì tôi không còn biết ranh giới của cơ thể mình, những phân tử ở bàn tay tôi hòa lẫn với những phân tử của bức tường, nên tôi thấy mình rộng lớn và tràn ra, như một vị thần vừa thoát khỏi cái chai giam giữ". Cô gọi đó là chạm đến Niết Bàn, và nghĩ rằng nếu ai cũng có thể cảm nhận được sự hòa nhịp tuyệt đối với vũ trụ như mình thì thế giới sẽ hòa bình biết bao nhiêu. Suy nghĩ đó khiến cô quyết giành lại sự sống (hơi giống nhà toán học trong phim Beautiful Mind, nhờ lập luận logic mà tự nhận ra rằng mình đang bị ảo giác).

Theo những gì cô Jill nói, thì việc thiền định không có gì ngoài đóng bán cầu não trái, chỉ khác là người làm chủ được tâm trí thì cũng tự chủ được việc cho bán cầu não nào hoạt động thay vì là kết quả của một cơn đột quỵ. Khi Thái Tử Siddhartha Gautama nhập cõi Niết Bàn ở dưới gốc cây bồ đề, biết đâu Người chẳng vừa trải qua một cơn đột quỵ. Nếu chỉ có bán cầu não phải làm việc, người ta sẽ làm đúng như những gì các thiền sư thường dạy, chỉ tập trung vào hiện tại, và lòng sẽ thấy thật bình yên.

Áp dụng vào bản thân, mình chắc chắn có bán cầu não trái hoạt động rất mạnh, vì mình thuận tay phải, ngôn ngữ phát triển, và luôn thấy việc tư duy không gian, hình khối cực kì khó khăn. Mình chuyên gia bị lạc đường vì không mường tượng được trong đầu phương hướng. Mình thường nhớ những gì người khác nói, chứ không nhớ họ mặc gì. Cứ theo đó, thì mình cũng có cảm nhận rất mạnh về cái tôi, về bản thân như một thực thể độc lập (từ bé tí đã tập tọng thắc mắc "tôi là ai", "tôi muốn gì"). Có lẽ cũng vì thế mà mình thường gặp khó khăn trong việc lại gần và thân thiết với những người khác mình.

Vẫn còn nhớ có lần mình bị nhốt ở ngoài đường ba tiếng liền, và buộc phải ngồi chờ trong khi không có thiết bị, dụng cụ gì để giết thời gian. Và trong sự im lặng tuyệt đối đó, mình thấy tâm trí như một cái roller coaster, vòng lên lộn xuống, không lúc nào yên. Đấy là lần duy nhất đến nay mình trải qua cảm giác gần như thiền.

2. Một hệ quả của việc có bán cầu não trái mạnh, như đã nói ở trên, là mình hầu như tư duy bằng ngôn ngữ, nhiều khi sợ sắp nghe thấy tiếng nói trong đầu. Việc đó dĩ nhiên dẫn đến một sự nhạy cảm với giọng nói của người khác. Mình có thể nhận ra bạn bè và người lạ bằng giọng nói tốt hơn rất nhiều người mình biết.

Gần đây mới kiếm được một việc dịch qua điện thoại cho một công ty dịch thuật ở Mỹ. Cuộc gọi đầu tiên là một cuộc khám bệnh. Mình nghe giọng của ông bác sĩ người Mỹ và giọng của cô bệnh nhân người Việt và họ chuyển qua chuyển lại cái điện thoại để mình dịch cho từng người. Khi không nhìn thấy, người ta chỉ có thể nghe và truyền đạt bằng giọng nói. Ông bác sĩ có vẻ trung tuổi, chắc là da trắng, đeo kính và đầu hơi hói, giọng pha chút sốt ruột "bà ấy chẳng bao giờ uống thuốc đúng chỉ dẫn cả, nên mãi chỉ số chưa ổn định, tuần sau phải quay lại thử máu nhé". Còn cô bệnh nhân có lẽ cũng phải xấp xỉ 50-60, chắc run rẩy và lạc lõng trong cái phòng khám trắng tinh ấy. Khi được hỏi có thắc mắc gì nữa không, cô chỉ bảo là "tôi không hỏi chi, cô giúp cho thì cảm ơn cô nhé."

Mình có lẽ tưởng tượng quá nhiều. Mình cũng cố gắng truyền tải trong giọng nói của mình sự chuyên nghiệp khi nói với ông bác sĩ, và sự ân cần khi nói với cô bệnh nhân. Một người phụ nữ lớn tuổi ở Mỹ, không biết tiếng Anh, không biết lái xe, phải đi khám bệnh một mình, chắc chắn rất lạc lõng.

3. Cũng vì xu hướng tư duy bằng ngôn ngữ như vậy, mình thường rất để ý việc dùng từ. Ví dụ như khi nói chuyện với người Nam, mình sẽ dùng "một xíu, mắc cỡ, quê quá trời, hai người quen nhau". Còn nói với người Bắc thì sẽ là "một tí, xấu hổ, ngại, hai người yêu nhau". Nhưng mình rất cố gắng để không dùng từ miền Nam khi nói với người miền Bắc, vì dù sao mình cũng là một người miền Bắc.

Một cô bạn từ Hà Nội vào Sài Gòn làm việc (mình dùng Sài Gòn chứ không dùng Hồ Chí Minh nếu có thể, vì HCM có màu sắc chính trị). Được khoảng một tháng, cô ý đã nói với mình "bọn tớ bị deadline dí". Từ "dí", cũng như "giục đi" là phương ngữ đặc sệt miền Nam. Mình đã chỉnh ngay, "ý ấy là bị deadline đuổi hả?" Bạn kia ngớ ra, "ừ, thì ở công ty mọi người vẫn nói với nhau như thế". Và bạn hỏi mình, tại sao ấy lại quá quan trọng chuyện ngôn ngữ như vậy.

Cũng khó mà trả lời câu hỏi đấy. Có lẽ mỗi người có những tiêu chuẩn riêng. Có một em trai kém mình 6 tuổi, khi nói chuyện lần đầu cũng nhận xét rằng, "em rất ngạc nhiên khi thấy chị nói chuyện rất thuần Việt, trước khi gặp chị em nghĩ chị sẽ đá tiếng Anh như những người đi du học lâu mà em từng biết." Mình nói với em rằng, thật ra việc đá tiếng Anh là kết quả diễn ra tự nhiên khi tư duy lâu bằng tiếng Anh. Chị đã chủ động và ý thức rằng chị không thích mình như thế, nên phải ép bản thân, kể cả khi  không ngay lập tức nghĩ ra từ tương đương tiếng Việt. Đấy là một quá trình đấu tranh dài và bền bỉ.

Có rất nhiều người chẳng đi nước ngoài bao giờ, viết tiếng Anh còn sai ngữ pháp và chính tả be bét, nhưng cứ nói chuyện là sẽ "em thấy mình rất lắc kỳ (lucky)", "được như vậy là hép pì (happy) lắm rồi", hoặc thậm chí "nhân viên này là ao sọt (outsource) hả?" ba la bô lô. Có một lần ngồi với hội bạn, các bạn nói cứ gì mà cứ "xít, xít", mình nghe mãi không hiểu tiếng lóng gì mới được phổ biến, hay là con bọ xít, mới thỏ thẻ lên tiếng "xít là cái gì thế?", thì cả lũ phá ra cười hô hố.

Sự trông chừng lời ăn tiếng nói của mình còn áp dụng vào vô số những từ tiếng Anh mà mình tránh nói. Ví dụ như "oh my God" (nhiều lúc nghĩ nó cũng giống "ối giời ơi" của tiếng Việt, nhưng vẫn không thích cái ẩn ý rằng tôi có một vị God để kêu). Hoặc mình không gọi nhà trọ đang ở là "home". Nhiều khi thay vì "Im going home", đơn giản, dễ hiểu, thì lại phải vòng vo rằng "Im going back to my place". Nhưng cứ vậy.

Tại sao phải cầu kì những chi tiết nhỏ nhặt như vậy? Mình đã bảo cô bạn là "vì những gì mình nói ra thể hiện con người mình, vì phải bảo toàn sự trong sáng của ngôn ngữ, vì abc xyz", lên gân lên cốt rất kinh. Giờ có thêm một câu trả lời, vì mình có bán cầu não trái phát triển.

When the religious goes popular

Friday, 16 November 2012 Posted by Rain


The French cultural center (L'espace) was packed that night. Old and young, local and expats, frantic believers and purely curious outstander alike filled the hall to its fullest capacity. Some contemporary artists would be jealous with the flow of audiences. Even after the show had begun, more people continued to rush in past the door and ended up standing in a cluster by one end of the room or spreading themselves along the wall. Yet it was not a pop, rock, jazz, or electronic music show. It was not even pure music to begin with. On stage there was a meticulous reproduction of a temple. Candle light flickered as if the wind blew through, incense's fragrance lingered about all corners. One session of medium worship was about to begin, but this time it was on stage, and everything was prepared for the gaze of an audience from all different background, but mostly educated  middle class. The medium, a short hair woman in her late 40s, has probably never before in her life performed in front of hundreds of people. She started swaying as the music began, shaking her body vigorously to signify that the spirit of a deity she summoned was entering her. But this time, I wonder how much of that was real manifestation of communicative channel between the two worlds, and how much is a recited move of the same performance she has given many times in her profession as an agent of the religious realm.

"Chầu văn" is a style of singing and dancing accompanying mediumship, in which a medium would dance along the music according to whichever deity s/he is possessed with at that moment. She or he imitates behaviours of heros, state officials, young girls or a benevolent Mother Goddess. This is a highly staged form of worshiping, in which both the medium (i.e. main actor/actress) and the believers (i.e. audience) know their roles and act accordingly. For example, when the deity is a young girl who loves teasing people and being praised for her beauty, the medium walks joyful steps, fixs hair in the mirro, and believers sitting around must chirp up compliments on her beauty sincerely, for when she is flattered and pleased, she will reward people with lots of blessings, or even wealth. The medium holds in her/his hands few bunches of small changes, and throw that out for everyone to catch.

In the old days, this indigenous form of religion with many beliefs and little doctrine occupied a great proportion of the Vietnamese spiritual life. Men and especially women found comfort in the fact that they could communicate with powerful spirits and could ask for their blessings. These Gods and Goddesses are responsive, and as long as one complies to some general rules for good behaviours and frequently participates in worshiping (which can be costly for comprehensive and extravagant offerings), one and one's family should be blessed with good health and good fortune. In fact, even though Confucianism and Buddhism are believed to exercise heavy influence on the Vietnamese culture, they are both sophisticated sets of ideas and philosophy, which require certain level of education and mediation to fully comprehend and practice. On the contrary, mediumship places more emphasis on faith than rationality, so it is not surprising that this form of religious practice was embraced more enthusiastically by a population overwhelmed with farmers who possessed little formal education yet engaged in a colourful and enriched system of folk beliefs.

In the latter half of the 20th century, the government fiercely controlled mediumship, labeling it "superstitious remnants of feudalism" along with some other age-old customs. Many home-based temples were eradicated and the practice was officially and actively banned all over the country. However, the cult lives on, and by the beginning of the 21st century, actually thrives with assistance and funding from some foreign cultural centers such as L'espace. Researchers begin to focus on this practice not only with a more positive tone but actually associate it with "the soul of the nation" "the most original form of religious beliefs". Moreover, "chầu văn" the singing itself, rather than practice of mediumship, is being proposed to be recognized by UNESCO as cultural heritage.

Facts aside, as I stood against the wall during the performance that night (because I didn't come early enough to reserve a seat), I couldn't help but wondering how many people considered themselves attending a sacred ritual and how many attending a colourful performance. The younger audience like myself, who didn't grow up immersed in stories of local heroes and princesses, were more likely to view the woman in splendid outfit dancing on stage as a performer, while the older ones seemed to be more engaged with the religious side of it. Nevertheless, I couldn't remove myself from the position of an indifferent watcher, yet at the same time, I know I should also be, if not a believer, at least a participant in the ritual. My mind told me so, but my heart didn't stir with any emotion I knew a true believer might be feeling. When the religious goes popular, when a scared ritual is performed on stage, when believers pay to participate, then who I am to know what is being created?