Showing posts with label opinion. Show all posts
Showing posts with label opinion. Show all posts

Tại sao người Việt Nam vô cảm?

Tuesday, 1 October 2013 Posted by Rain

Gần đây, báo chí và những người trên mạng chỉ trích lẫn nhau, và  phê phán những người trẻ khá nhiều về chuyện vô cảm, vô tâm, thờ ơ với thời cuộc, người xung quanh, xã hội. Họ nói như thể đấy là một đặc tính cố hữu của người Việt Nam, và cũng như mọi khi, chỉ trích chỉ để mà chỉ trích, tức là không phân tích tại sao lại như thế, cũng không nói phải làm thế nào để thay đổi. Tất cả cứ như một dàn đồng ca, thi nhau xỉa xói rằng người Việt vô tâm, người Việt lạnh lùng đến tàn bạo. Các bác người lớn đĩnh đạc trong nhà nước thì thường nói, giới trẻ ngày nay biến thái, vô cảm vì ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, của văn hóa phương tây, của các trang mạng xã hội độc hại, những câu các bác lải nhải bao nhiêu năm qua mà có khi cũng chẳng hiểu mình đang nói gì. Bản chất của cái việc phê bình mà không đưa ra nguyên do đấy khiến mình khó chịu không kém việc phải chứng kiến những biểu hiện của việc vô cảm kia.


Theo mình thì việc người ta thờ ơ, không dám lên tiếng khi chứng kiến cái xấu, không dám quan tâm khi nhìn thấy người bị nạn, bịt mắt trước những tổn thương của người khác, có mấy nguyên do thế này.

Thứ nhất, ngay từ bé, người ta đã không được phép quan tâm. Một đứa trẻ dám hỏi những câu mà cô giáo không biết sẽ bị quát bắt ngồi xuống, thay vì được khuyến khích hỏi tiếp. Một đứa trẻ dám thắc mắc khi nhìn thấy người lớn đưa bó hoa kẹp phong bì sẽ bị kéo đi, thay vì được trả lời. Có quá nhiều thứ một đứa trẻ lớn lên ở thành phố trong xã hội Việt Nam hiện đại (đối tượng bị phê phán chủ yếu, mấy người nông dân làm ruộng hoặc công nhân may chảy máu ngón tay có thấy bị chê là vô cảm bao giờ đâu), phải học cách hiểu và chấp nhận trong im lặng.

Từ cấp một lên cấp ba, mình bao nhiêu lần phải ngồi chép mỏi tay những bài thi tìm hiểu pháp luật, tìm hiểu Đoàn gì gì đó đơợc phát động mà không hiểu tí gì mình đang chép, chỉ biết là phải nộp cho xong. Rồi một đứa làm chi đội trưởng, liên đội trưởng, trong Đội Thiếu Niên Tiền Phong (đội ngũ kế cận của Đoàn, tức đội hậu bị của Đảng) cũng biết cách bịa đặt từ bé để ghi vào sổ những buổi sinh hoạt chi đội không diễn ra. Lúc đầu cô tổng phụ trách đọc cho viết, sau này đã quen thì tự bịa ra dựa vào các tháng trước. Tất cả những việc không đúng sự thật đó diễn ra như nước thấm dần, có thể đứa trẻ cắc cớ hỏi một hai lần, nhưng rồi nó cũng sẽ nhanh chóng học được cách im lặng. Mà để im lặng trước những điều không hiểu, không hợp lý, thì người ta phải lờ đi, phải giả như không biết, không nghĩ đến, lâu dần sẽ quen.

Đó là chưa kể sức ép phải giống như mọi người của một xã hội đã hàng nghìn năm vận động theo mô hình làng bản, tức là "lệ làng" là quyền uy tối thượng. "Phép vua" - tức là pháp luật quy chuẩn của nhà nước phải thua, thì tất nhiên cái tôi cá nhân bị đè bẹp dúm. Nếu lệ làng là nhìn thấy người ăn xin phải quay mặt đi, xua tay, thì ai không làm như thế sẽ bị coi là kì dị. Lệ làng là đi ngoài đường phải chen vào bất cứ khoảng trống nào, nếu không chen mà cứ nhường thì sẽ chôn chân mãi ở một chỗ. Mình nhớ hồi mới từ Canada về, quen thói lịch sự giữ cửa cho mọi người qua, không những không có ai nói câu cảm ơn mà tất cả mọi người cắm đầu đi qua, mình cứ đứng giữ mãi cuối cùng đành bỏ ra để cắm đầu đi giống mọi người.

Cũng là hồi mới về, mình hay có cảm giác khá khó chịu là thấy mọi người như đang di chuyển trong một quả bóng trong suốt, không ai tchạm vào ai. Có lẽ cảm giác đấy đến từ quá nhiều những xét nét (đi xe đạp thì sẽ không dám vào cửa hàng mua quần áo, mặc quần ngố thì không dám vào cửa hàng buffet) mà mọi người phải giữ kẽ để sống cho đúng khuôn khổ của nhau, và từ việc không ai dám quan tâm đến những điều có vẻ khác thường.

Nguyên nhân thứ hai của sự vô cảm (vô thưởng vô phạt) là do thiếu thông tin. Những thông tin đáng bàn nhất, đáng để gây tranh cãi nhất, đáng lẽ ở nước khác có thể gây ra bao nhiêu cuộc bút chiến hay khẩu chiến sâu sắc, thì ở nước ta đều bị bưng bít. Ví dụ như chẳng ai được phép nói về việc dân ở chỗ này chỗ kia đang khởi kiện chính quyền vì thu đất không đúng, dân đang vật vã bệnh tật vì nhà máy sản xuất xả chất thải công nghiệp vào nguồn nước mà kêu không ai xử lý, dân bị đàn áp, dân bị mất mùa vì tính toán sai của những doanh nghiệp thu mua nguyên liệu nhà nước, dân đánh cá đang bị Trung Quốc bắn tỉa. Tất cả những vấn đề không thể được nói đến đó đương nhiên tạo ra một khoảng trống lớn trên báo đài, và những cơ quan này lại phải lấp vào bằng những tin chẳng ảnh hưởng đến ai, những vụ việc mà dù có đấu khẩu hăng hái cỡ nào cũng không gây nguy hại cho nhà cầm quyền. Nào là ngực to ngực khủng, thằng bé này tí tuổi mà hợm hĩnh, con bé kia dám viết sách bịa đặt, anh ca sĩ nọ diễn trò trên sân khấu. Người dân bị dắt mũi bởi truyền thông, cũng cứ thế là đâm đầu vào bới móc, mổ xẻ, hăng hái tranh đấu vì ý kiến của mình, trong khi những tin tức thật sự cần tranh luận, phản biện, thì hoàn toàn vắng bóng.

Sự bưng bít thông tin này, mà thường là những thông tin đa chiều, dẫn đến việc người dân không có khả năng và thói quen nghĩ ngược lại với những gì mình được dạy, hay còn gọi là tư duy phản biện. Chính vì không thể nghĩ ngược, nên khi gặp cái gì không quen, họ không nghĩ, ngại nghĩ, sợ nghĩ, vì thế lảng tránh để khỏi phải nghĩ. Sự vô cảm là thói quen, vì từ bé đã không được dạy cách lên tiếng, cách thể hiện suy nghĩ cá nhân, và cũng là kết quả của sự bất lực, vì không biết làm thế nào để suy nghĩ độc lập. Vì các thông tin đều phập phù như thế, biết hay không biết cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tình hình xã hội, hôm nay có thằng bé to mồm này để dân tình chửi bới thì mai phải có con bé ngu xuẩn khác để bà con lên án cho xôm.

Mình rất thích TED, nhưng khi TED về đến Việt Nam, tất nhiên không dám vơ đũa cả nắm, nhưng qua những video youtube mình xem các bạn quay lại các sự kiện đã tổ chức, thì mình khá thất vọng. TEDx ở Việt Nam không khác gì những sự kiện diễn thuyết các bạn trẻ tổ chức, mời một số người nổi tiếng nói những bài dài lê thê, không có trọng tâm, thậm chí nhạt nhẽo. Mình cứ tự hỏi nếu những người, tạm coi là có tầm ảnh hưởng đến công chúng, được quyền nói những thông tin có thể làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước, mà không bị kiểm duyệt, được bàn luận về những cái xấu và cái tốt của bộ máy cầm quyền một cách tự do, được đưa ra chính kiến của họ mà không bị bỏ tù, thì liệu các bạn trẻ đang lắng nghe hau háu kia có học được cách suy nghĩ độc lập và nhìn sự việc từ nhiều phía, để từ đó bớt vô cảm hơn được không?

Cuối cùng, nguyên nhân gốc rễ của cả hai nguyên nhân trên, mình nghĩ là do thể chế chính trị. Nếu có sự đối thoại trong nhà nước, thì cũng sẽ có sự đối thoại trong nhân dân. Nếu người dân cảm thấy rằng họ có quyền chất vấn, và thật sự có khả năng xoay chuyển tình thế, họ sẽ quan tâm nhiều hơn. Những nước phương Tây người dân của họ phê phán chính phủ rất nhiều, họ sẵn sàng phản đối khi có điều gì không vừa lòng, tại sao nước họ vẫn mạnh, vẫn giàu? Còn ở nước mình, quyền phê phán của người dân chỉ gói gọn trong mấy bộ ngực và mấy nhân vật vô thưởng vô phạt, mỗi lần túm được vụ việc nào là báo chí không chịu để nguôi ít nhất vài tuần vì có thứ để giật tit, câu view; thì nước vẫn yếu, vẫn nghèo?

Mình không tin có cái gọi là "tính cách cố hữu" của người Việt Nam. Mọi thứ là do thể chế và cách tổ chức xã hội mà ra. Như Hàn Quốc và Triều Tiên, cùng một dân tộc, tiếng nói, văn hóa, tại sao một nước giàu có thịnh vượng, một nước nghèo dân đói đến mức phải ăn thịt người? Những sự bất lực, thờ ơ, vô tâm, đều có căn nguyên sâu xa của nó. Bạn mình bảo cứ về Việt Nam là thấy không khí ngột ngạt và bi quan, thấy người ta không chịu hành động, chỉ ngồi một chỗ than thở và nêu ra các lý do mình không thể làm được cái mình muốn. Ở một xã hội không khuyến khích sự khác biệt và tính phản kháng, mọi người khuyên nhau "lo cho cái thân mình yên ấm đã" hoặc tự nhủ "có cố cũng chẳng khác được gì, con vua rồi lại làm vua.". Chẳng phải chính Marx, người mà đi vào phòng họp của các UBND đều thấy đang ngồi sừng sững trên bệ, đã viết là "không có mâu thuẫn thì không có phát triển" sao?

Mâu thuẫn bị bóp chết, thành ra cái gì cũng xam xám, nhờ nhờ, trôi đi vô nghĩa, kể cả những người đang sống trong xã hội này.

Inviting myself to hope

Friday, 15 June 2012 Posted by Rain

How painful is it to relive and express your pain in public? How brave do you need to be in order to subject yourself to public judgement?


Contemporary art is catching up in Vietnam. Every month, there would be some events that relate to this specific form of art, be it a painting exhibition, a dance performance, or a play with unusual structure or interactive format. While creating and enjoying contemporary art is becoming more and more trendy, using it to present and tackle social issues is even more fashionable.

"Inviting myself to hope" is a very beautiful translation of the title of a famous song by Trinh Cong Son
Tôi ơi đừng tuyệt vọng" literally means "Hey me, don't despair". While the Vietnamese phrase is an encouragement, resulting from a bad outcome, the English version is a positive attitude. These are the name of a contemporary art performance put together by CSAGA* and a few big sponsors. The actresses are advertised as unprofessional performers and former victims of domestic violence. Now, after participating in a project aiming at supporting domestic violence victims for a few years, they have gathered enough courage to participate in a show about their own sorrow.

The play sent shiver down my spine many times, especially when the actresses expressed their reactions to violence. They crawled, they rolled, they cried, they screamed, they laughed, they became crazy, they froze, they were so frightened that they lost consciousness. Through the medium of play, they were free to act out their pain, and unlike traditional plays, the line between reality and imagination was blurred to a great extent. This play can be scripted, but all actresses have first hand experience of how being beaten days after days feels like, therefore, the performance transforms itself from a pure play to a recounted story of real events and real emotions.

There is quite clear story line, comparing to other attempts in conveying messages in contemporary art. I am not sure whether the crew wants to make the play as easy to understand as possible (since it aims at the mass audience and to raise awareness, rather than selective cultural elites who like to ponder upon complicated matters) or whether they just have a very urgent message that needs to get through and they can't take the risk of letting the audience draw their own conclusion. Phase one, some women got beaten, they became despaired, the men were shown to be aggressive, addicted to gambling and drinking. Phase two, the women got together, gained strength as a group, reclaimed their power. Phase three, the men realized their mistakes, were sorry for their awful deed, were forgiven by the women, and a happy ending. Everyone danced in the sunlight and the song of Trinh Cong Son was played as background music.

Even though movements and speaking tones were not as refined as those of professionals, I could still recognized some great efforts were made. However, there are two issues that keep coming back to my mind during the play. First, the men were depicted in a very criminal manner, while the women a victim-like manner. The men were all about aggressiveness, cheating, lying, abusing, while the women were only suffering, covering their faces with their hands, crying in the dark and offering their hands, both to their peers and to the men by the end. There was a very hostile distance between the two sexes, as if the men only know how to beat, and the women don't do anything else but crying. Criminalization of the male makes them seem irrational. Why are they the frightening creatures that only beat and abuse, and would why the women stick with them at all? Victimization of the female makes them irrational as well. Why do they only cry and suffer, and why don't they just leave the abusive men? Depicting one sex with all negative traits, namely all the men in the play were abusive and horrifying, makes their violent acts seem innate. They are bad, all of them are bad, nothing else to say. On the other hand, portraying all the women in the play as tolerant and passive make their suffering natural too. More than once, people in the audience commented how Vietnamese women are known and admired for their great tendency to scarify and consider the interest of others before their own. As everyone refers to this virtue as a legacy, it's not a big surprise that women would  internalize the duty to be willing to scarify anything, anytime so much that they forfeit their self-defense system.

However, despite being depicted as evils, the men still didn't bear the responsibility. They were either gambler, drinker or mentally ill. This, to me, is problematic as well, as this portrayal decentres the men from their bad behaviours, providing them a cause to blame. Do only men who drink, gamble and have mental problem beat their wives? Do only these irrational men, who are not always in the best state of their mind, abuse women? Does it mean that men who are in good shape, good mental state will never commit crimes against women? No, absolutely not. Creating a cause to blame is dangerous, because whenever people think of an abusive man, they will think of an external cause that happens to him. A man in the audience actually commented that sometimes men are abusive because they face failure in business, and they vent on their wives. That is a patterned way of getting the men out of the matter, freeing them from guilt, and shifting the blame, if not to the wife, then to an external factor. Then the men play the role of a victim themselves. When they are not seen as a rational being who is in full control of their acts, they can explain away their wrong deeds by claiming victims to their rage, their disappointment, their hot temper, their drunkenness, their greed (to earn money by gambling), or their unstable state of mind.

The play is a nice try in bringing out voices from an usually unheard group in society. I believe that when someone is empowered to speak up about her pain, the pain will subdue. However, a better contextualization is needed. If lots of Vietnamese men beat up their wives, the problem can't be blamed on one or two individual men with drinking or gambling addiction. Yet, they shouldn't be viewed to be bad inside out either. A most humane and sociological way, I think, is to place them among all the norms, beliefs and viewpoints that are so commonplace we forget they contribute a great deal to our daily activities. The men, even when they are perpetrators, shouldn't be separated from their social context. No one would beat their wives if they know, and sincerely believe that it's wrong. They must have some reasons and justifications for their acts. To dig deeper into these underlying assumptions and norms will require even more efforts, time and efforts. Meanwhile, at least the play "Inviting myself to hope" has achieved its main goal of spreading the message, because at the debut show the Youth Theatre's 600 seats were filled.

 * Centre of Studies and Applied Science for Gender - Family - Women and Adolescence

Đội gạo lên chùa

Sunday, 8 April 2012 Posted by Rain

"Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc nên sư trọc đầu
Ai làm cho dạ sư sầu
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây"
(Ca dao)

Sau gần một năm ở Canada và tham gia kha khá những buổi liên hoan, thuyết trình trong đó tôi hoặc mặc áo dài hoặc không, đứng trình bày trước một nhóm bạn bè quốc tế về Việt Nam, tôi bắt đầu thấy chán ngán với những hình ảnh tôi đưa ra về đất nước mình. Tôi kì cụi mang theo những tranh Đông Hồ, tôi làm video clip có nền âm thanh là tiếng đàn bầu và những tấm ảnh chụp làng quê và thành thị Việt Nam. Tôi đã nói rất say sưa, và có lẽ là đầy tự hào. Có một bác người Canada nói riêng với tôi rằng: "khi nghe cháu nói về đất nước của mình, bác đã nghĩ ôi trời ơi, cô bé này quả là một người con yêu nước", và một chàng trai người Nhật đã đuổi theo tôi chỉ để nói rằng bạn rất xúc động.

Nhưng quanh đi quẩn lại, những điều tôi có thể nói về Việt Nam chỉ bó hẹp trong áo dài, phở, rặng tre, vịnh Hạ Long, đống rơm con gà, tháp Rùa, hay những khuôn mẫu mà những người làm du lịch đã đưa ra sẵn. Lúc đầu tưởng mớ hình ảnh để miêu tả Việt Nam ngồn ngộn lắm, nhưng chỉ trình bày vài lần, tôi thấy mình đi theo một lối mòn mà người ta đã vạch sẵn để quảng bá cho một sản phẩm. Rồi mỗi khi có người chào tôi bằng tiếng Trung, hay hỏi lại tôi "Việt Nam là ở đâu, không phải là một phần của Trung Quốc sao?" tôi lại phải vật lộn để vạch ra cái ranh giới rõ ràng là rất mỏng manh ấy. Việt Nam còn là gì ngoài những hình ảnh như cô gái mặc yếm đỏ ngồi e ấ bên giếng, đoàn người đi xe máy nườm nượp trên đường, mái chùa cong cong lẫn trong khói sương mà tôi có thể tìm thấy nhan nhản trên Internet?

Tôi đã luôn muốn trả lời cho câu hỏi ấy, có lẽ trước cả khi tôi phát hiện ra những điều mình có thể kể với bạn bè quốc tế về đất nước của mình không vượt ra nổi những khuôn mẫu của ngành du lịch. Tôi muốn biết nguồn gốc của mình ra sao, và nơi xuất xứ của mình nó thế nào. Càng ngày tôi càng nhận thức rằng những gì mình biết quá nhỏ bé, và có lẽ để trả lời cho câu hỏi "Việt Nam là gì?" tôi sẽ mất cả đời.

Tôi tìm được một phần câu trả lời cho mình trong những tác phẩm văn chương của Nguyễn Xuân Khánh. Lần đầu tiên tôi biết đến ông là qua "Mẫu Thượng Ngàn" vài năm trước, và từ khi đó đã ước ao sẽ có ngày tôi đủ trình độ để dịch sách của ông sang tiếng Anh, bởi vì tôi rất yêu cái chất Việt ướt đẫm trong văn của ông. Tôi nghĩ nếu người ta chỉ đọc một quyển sách của ông thôi thì cũng đã trả lời được rất nhiều cho câu hỏi "Việt Nam là gì" rồi. Lần này đọc "Đội gạo lên chùa" tôi càng ngẫm ngợi ra được nhiều điều, và càng thêm yêu ông.

Thiên tiểu thuyết dài gần 900 trang lấy tựa từ một bài ca dao hóm hỉnh. Dù lời hát dân gian kia có vẻ châm chọc, nhưng cuốn sách là một suy ngẫm dài (có lẽ là cả đời người) về Đạo và Đời, rất trang nghiêm mà cũng rất dung dị.

Toàn bộ truyện đặt vỏn vẹn trong có một ngôi làng. Làng là đơn vị xã hội chính của nông thôn Việt Nam, và trước thế kỉ 20, Việt Nam hầu như chẳng có thành thị. Suốt chiều dài lịch sử của mình, mọi biến động của đất nước được hợp thành bởi những ngôi làng ẩn mình dưới lũy tre xanh. Vì thế chỉ cần nói về một ngôi làng và những bão dông quét qua nó, ông cũng nói được những điều ảnh hưởng đến cả xã hội Việt Nam.

Và chẳng có tuyến nhân vật nào là chính hay phụ. Tác giả cứ nhẩn nha kể hết chuyện người này lại sang chuyện người kia, ai cũng xứng đáng được kể tường tận chi tiết gốc gác, và chẳng ai hoàn toàn xấu hay hoàn toàn tốt. Nhiều khi một chi tiết đã xuất hiện ở chương trước trong cuộc đời người này, lại được kể lại ở chương sau trong cuộc đời người khác. Với người tốt tác giả không ngợi ca hết lời, với kẻ xấu ông cũng không dìm xuống bùn đen. Cái nhìn của nhà văn hiền lành, vì ông cho tất cả nhân vật của mình ai ai cũng có một chỗ đứng. Ông tẩn mẩn kể nguồn gốc từ đời ông, đời cha, đời chú, những mối quan hệ chồng chéo lên nhau, thằng Chép là con thằng Trắm, cái Mua là con mẹ Xim, thằng Hạ là con bố Xuân, cứ thế, những biến cố xảy ra với người này là nguyên nhân của thay đổi trong cuộc đời người khác. Những câu chuyện nhỏ đan xen vào nhau, giống như những vòng tròn lan tỏa trên mặt ao khi những hạt mưa rơi xuống, vòng này nối vào vòng kia, để rồi tất cả tạo nên một sự rúng động ngầm bên dưới mặt nước.

Đọc ông, tôi cảm giác Việt Nam là một vùng đất nào to lớn và giàu có lắm. Cũng có thể tôi đã thực sự trở thành một người dân làng sau lũy tre trong truyện của ông, đi đến phố huyện đã thấy xa xôi và lạ lẫm. Cũng có thể tại cái cách ông miêu tả những thứ đơn giản một cách cầu kì và nâng niu quá. Tôi luôn nghĩ người viết thành công khi khiến những thứ mình viết về đẹp lên trong mắt người đọc. Nguyễn Xuân Khánh nói đến việc ngoáy tai của những anh thợ cắt tóc và nâng nó lên thành một kiểu nghệ thuật, trong đó người ngoáy tai phải có đôi tay mềm, đôi mắt tinh, sự tập trung tuyệt đối và cả một cái tâm thật tĩnh để lắng nghe từng nét mặt, từng tiếng thở của người khách để biết khi nào tiến khi nào lùi, khi nào nên mạnh nên nhẹ, và làm thế nào để khiến người khách khoan khoái nhất. Ông tả thú uống trà bằng cách hứng nước mưa chảy từ bẹ lá cau, không phải nước mưa múc từ bể, và ấm trà phải được ủ được chuyên thật đúng cách. Ông nói về cách làm sáo diều, cách vót sáo thế nào để tiếng sáo lúc trầm lúc đục, lúc thánh thót bay xa lúc âm vang gần gũi.

Cái giếng trong chùa thì thơm, tiếng chuông trong chùa thì biết run rẩy với lòng người. Cái bánh rán to bằng cái mâm, để cả tuần ăn vẫn vừa giòn vừa ngọt. Cứ thế, những sự vật bé nhỏ đều có những câu chuyện kì thú đằng sau, và người đọc như lạc vào cả một kho tàng những điều kì thú. Vì sự sống ở ngôi làng ấy giàu có quá, nên người ta thấy nó thật bao la, và đẹp. Nguyễn Xuân Khánh tả anh nông dân nghèo đặt đơm cá trên bờ đê, rồi anh vừa ngồi trông đơm vừa ngắm trăng và nhắm rượu với vài con tôm con tép sống chấm cùng mấy hột muối và vài cái lá chanh. Anh nông dân cục mịch, con tôm sống thì có gì lạ lùng, nhưng anh nông dân của ông lại biết cái vị ngòn ngọt của thịt tôm sống hòa với vị chát của lá chanh, cay của ớt, và mặn mòi của muối, với ngọn gió hây hẩy trên triền đê, thế là cái sự ăn uống ấy trở nên đẹp. Hay là cách cô thôn nữ nhuộm áo màu nâu non, cũng là màu nâu nhưng phải là loại lá cây ấy, trộn với loại cỏ dại ấy, thì mới tạo nên thứ màu nâu dù kín đáo nhưng vẫn biết điểm trang cho sức xuân ngời ngợi nơi cô. Có thể cô thôn nữ không đẹp, cái áo của cô cũng chẳng đẹp, nhưng Nguyễn Xuân Khánh làm cho màu nâu non nơi tà áo của cô và cách nhuộm kì công ấy đẹp. Còn tôi thì như mê đi trong những vẻ đẹp trùng trùng lớp lớp ông vẽ ra.

Khỏi phải nói, những người phụ nữ trong văn ông đều đẹp. Người thì mặn mà, người thì e ấp, người lại trong veo, có bà già lẩn thẩn suốt ngày nói chuyện với những con đom đóm thì có vẻ đẹp chập chờn của sự kết nối tâm linh. Hình như vì ông yêu phụ nữ quá nên cả những người đàn bà làm việc xấu trong truyện của ông cũng có lúc đẹp. Người mẹ nghèo bế con đi ăn xin suýt chết đói khi được cứu sống cũng thay da đổi thịt. Bà địa chủ hay chửi bới người làm đi vào cõi chết bằng cách treo cổ tự tử trong áo mớ ba váy lĩnh. Mỗi người trong bọn họ đều có nét đẹp riêng, kín đáo và duyên dáng. Người thì có mái tóc đen nhánh được vấn rất khéo. Người lại có cái gáy trắng tuyệt trần. Người là cái lưng thắt đáy lưng ong. Người lại là giọng hát trong réo rắt. Ở Nguyễn Xuân Khánh tôi tìm thấy sự trân trọng phụ nữ chân thành và sâu thẳm, một điều ít thấy ở những cây bút nam.

Ngoài "Hồ Quý Ly" là tiểu thuyết lịch sử (mà tôi chưa đọc) thì cả hai cuốn còn lại của ông đều lấy tôn giáo làm nền tảng chủ đạo. Một cuốn xoay quanh những câu chuyện về những người tin thờ đạo Mẫu, và cuốn kia, về những người mà số phận buộc họ phải chênh vênh giữa chùa và ngoài chùa, đi vào và đi ra, thoát tục và nhập tục. Tất lẽ dĩ ngẫu mọi thứ trong truyện đều bảng lảng sắc màu kì ảo của hư và thật, truyền thuyết và đời sống. Gốc đa đầu làng là nơi đu võng của các Cô, con hổ được vị sư nuôi hiền lành không làm hại cả người đang tâm giết nó. Tất nhiên là phần Việt Nam mà Nguyễn Xuân Khánh viết là miền Bắc, và nền văn hóa ông miêu tả cũng là đặc trưng của miền Bắc, nhưng tôi nghĩ người Việt ở đâu cũng sống với những câu chuyện mơ mơ hồ hồ như vậy. Có thể họ không tin, có thể họ không nghe, thậm chí chưa từng biết tới, nhưng những đức tin về điều linh thiêng và hướng đến cái Thiện vẫn là một phần chảy trong họ, chỉ là họ chưa nhận ra mà thôi.

Bởi vì Nguyễn Xuân Khánh viết văn rất đơn giản, cả thiên tiểu thuyết dài như vậy ít có câu nào mà người đọc phải vỗ đùi đánh đét tâm đắc, mà ông lại nhẩn nha kể hết người này đến người kia, nên tôi đọc truyện của ông như một đứa cháu nhỏ quẩn quanh bên chân ông mình nghe kể chuyện. Ông chẳng cố gắng chứng minh điều gì, hay tranh luận cho một quan điểm nào của cá nhân mình. Ông chỉ đơn giản kể lại những câu chuyện nho nhỏ, là tập hợp của những số phận nho nhỏ, họ đã lay động thế nào khi một biến cố xã hội xảy ra, và chính họ cũng là những tác nhân thay đổi thế nào. Truyện của ông không gian thì hẹp, chỉ bó gọn trong phạm vi lũy tre làng, nhưng thời gian thì rộng. Trong "Đội gạo lên chùa", thời gian trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến sau khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, tức là phần lớn của thế kỉ 20, thế nên những biến động đều trải dài theo thời gian. Những con người ấy đã lớn lên, già đi, và biến đổi cùng với xã hội Việt Nam. Đem những câu chuyện nhỏ xếp cạnh nhau như thế, lại khiến người ta thấy rõ tình yêu của mình dành cho điều mình viết về, và yêu luôn cả điều đó, ông khiến tôi nghĩ đến tình yêu trong đạo Phật. Tình yêu không phải hướng đến một đối tượng, mà khi người yêu được tất cả nhân gian, là bản thân người đã trở thành tình yêu. Người viết văn cũng thế, khi họ đã yêu điều gì đó đủ để nó thành một phần của mình, họ không cần phải cố gắng, người đọc cũng sẽ yêu nó và yêu cả người viết.

Phụ nữ và tôn giáo, tôi không biết có phải tôi yêu Nguyễn Xuân Khánh vì ông cũng yêu hai điều này, hay là thật ra, nhờ có ông và sau khi đọc truyện của ông mà tôi mới gọi được tên những điều mình yêu?