Về hay ở
Càng đi ra ngoài nhiều tôi càng bớt yêu Hà Nội.
Tôi vẫn chưa gặp được thành phố hay vùng đất nào khiến tôi
yêu từ cái nhìn đầu tiên. Tôi không có nhiều ấn tượng lắm với điện đài, kiến
trúc, sông núi hay thắng cảnh, nên những gì còn lại chỉ là con người. Mà bạn biết
rồi đấy, tôi đã sống ở Hà Nội suốt hơn hai chục năm qua mà chưa bao giờ gặp được
người nào khiến tôi phải thốt lên “Ôi, quả là một người Hà Nội chính gốc.”
Mỗi khi có ai hỏi tôi quê ở đâu, hay chìa giấy tờ tùy thân
ra, thì tất nhiên tôi phải trả lời rằng mình là người Hà Nội. Có rất nhiều người
không thỏa mãn với câu trả lời đấy, có lẽ trong thâm tâm họ nghĩ rằng, làm gì
có ai là người Hà Nội, chỉ có những người ở nơi khác về đó sống lâu rồi tự nhận
mình là người Hà Nội thôi. Trong trường hợp của tôi, thì cái lâu đó bắt đầu từ
ông bà nội ngoại, nên tôi hầu như cũng không còn kết nối gì với những nơi ông
bà tôi gọi là quê. Tôi là thế hệ mà nguồn gốc xa xôi nhất chỉ bám rễ được vào
nơi không có ai cho đấy thực sự là quê cả.
Nhưng có những miền đất khiến tôi thấy dễ chịu, và muốn quay
trở lại để sống, như Đà Nẵng chẳng hạn, phần lớn vì con người ở đó hiền hậu tốt
bụng. Tôi không dám chắc rằng, nếu tôi là người nơi khác đến, liệu tôi có vương
vấn gì với Hà Nội không. Hoa sữa quá ngắn ngủi, mặt nước hồ Tây mờ ảo mỗi ngày
lại bị xẻ nhỏ hơn bởi những khách sạn, nhà hàng nổi, sân golf nước, và các đường
kè chằng chịt. Chiều hôm qua trên đường về nhà đúng giờ tan tầm, sau lưng tôi
có một chiếc xe cứu thương hú còi inh ỏi mà người và xe vẫn ken đặc. Tôi nhìn
qua kính thấy chai truyền treo lơ lửng và người nhà trong xe nhấp nhổm không
yên. Nếu tôi là họ, có lẽ đấy là lúc tôi thấy căm thù giao thông ở Hà Nội nhất.
Nghĩ đến thế thôi mà cũng cay cay mắt (hoặc là do bụi).
Những gì người ta gán cho Hà Nội, hay đúng hơn là cho tình
yêu của họ với Hà Nội, là những thứ đối với tôi hoặc đã mất hoặc quá sáo rỗng.
Tôi ngờ rằng giá trị của Hà Nội đối với tôi bây giờ chỉ là những cơ hội nghề
nghiệp, những hợp đồng giúp tôi kiếm tiền dễ dàng với bằng cấp của mình mà nếu
không ở thủ đô thì khó mà vớ được. Và sợi dây kết nối tôi với Hà Nội không phải
là với một thành phố đáng yêu, mà là với nơi mình đã quá quen. Có lẽ nếu có nhớ,
tôi chỉ nhớ Hà Nội như một thói quen, một phần của kí ức, một chỗ để bám trụ
vào quá khứ của mình cho khỏi phân vân quá nhiều mình là ai và mình thuộc về
đâu. Mình thích ăn bún riêu và bánh cuốn, có thể ngồi ăn ở bất cứ đâu trên vỉa
hè, kể cả gần cống hay bãi rác, thế chứng tỏ mình là người Hà Nội. Nhưng cả những
sở thích đó, tôi biết rất rõ rằng chúng được hình thành từ thói quen, không phải
từ lòng cảm mến.
Dĩ nhiên tôi sẽ nhớ những cảnh người người nhà nhà ngồi tràn
lan trên vỉa hè, rất phơi bày nhưng cũng rất riêng tư, vì ai cũng nhìn thấy
nhau nhưng không ai thật sự nấn ná trên khuôn mặt nào. Tất cả những con người đấy
chỉ là một chấm trong bức tranh phố phường, họ có mặt nhưng cũng không có mặt.
Giống như tôi có thể ôm người yêu trên xe máy, tựa cằm vào vai anh nhưng không
dám nắm tay trước mặt gia đình. Ở trên phố, chúng tôi hữu hình mà vô hình, đám
đông là một nơi an toàn để lẩn vào, cộng thêm hai cái khẩu trang, phụ kiện
không thể thiếu của người Hà Nội, thì có bao nhiêu cơ hội để người khác nhận ra
tôi?
Ở Canada chẳng hạn, người ta không ăn uống ngoài đường, tất nhiên trừ BBQ
thì đã là hẳn một kiểu ăn có phong cách riêng, còn lại tất cả phải ngồi đàng
hoàng trong nhà, đường phố chỉ có nhà, cây và ô tô, trong những ngày mùa đông
kéo dài đằng đẵng thì chỉ có những khối xám vật vờ, lúc mới sang tôi nhớ người
biết bao nhiêu.
Và tôi cũng sẽ nhớ mùi hương đã cháy gần hết bảng lảng quanh
mình khoảnh khắc tôi mở mắt mỗi sáng ngày rằm hay mùng một. Hay mùi thức ăn
đang chín từ dưới bếp tỏa lên khi tôi bước ra khỏi phòng tắm lúc xế chiều, đi
xuống là đã có mâm cơm nóng hổi ngon lành mà tôi không phải đụng tay. Nhưng điều
đó dĩ nhiên không phải vì tôi ở Hà Nội, gia đình nào cũng có những giờ phút như
thế.
Dạo gần đây có nhiều người hỏi tôi có định ở lại sau khi học
xong không, câu hỏi chắc là du học sinh nào cũng phải trả lời người khác và trả
lời chính mình. Tôi vật vã hỏi và loay hoay trả lời, có lẽ trong suốt cả bốn
năm học đại học. Dĩ nhiên đấy không chỉ là vấn đề về hay ở, mà chỉ là một phần
lớn hơn trong những băn khoăn và khủng hoảng của những người trẻ đang cố định
hình cho cuộc đời mịt mờ của mình. Mình thích gì, mình có thể làm gì, mình cần
gì, mình muốn gì, tưởng như là một chuỗi những chồng chéo đan xen phức tạp
không bao giờ chấm dứt.
Tôi không nhớ chính xác mình đã quyết định về thế nào và từ
lúc nào. Năm học cuối, tôi đã cảm thấy sự kết nối của mình với Việt Nam rất
mong manh, và tôi rất bình thản quan sát kết nối ấy mờ dần. Tôi đã đủ thờ ơ để
không còn quá quan trọng việc sống ở đâu nữa, như lời một câu hát thì là “đã hết
buồn và hết vấn vương”. Không còn buồn vì nhớ nhà, cũng không còn vấn vương muốn
quay về nữa.
Nhưng tôi không thấy cơ hội làm việc ở Canada sáng sủa cho
mình. Trong suốt quá trình học, hết lần này đến lần khác tôi không thể xin việc,
hoặc bị từ chối vì việc đó chỉ dành cho công dân Canada, hoặc ít nhất là người
định cư lâu dài. Tôi không trách móc gì sự thật đấy, chỉ có điều nó luôn nhắc
nhở tôi rằng tôi không phải là một phần của xã hội và sẽ có ít cơ hội hơn để cạnh tranh khi ở đây, và viễn cảnh sống lâu dài ở
đó cũng không hấp dẫn tôi nhiều lắm. Có nhiều người sẵn sàng bỏ ra một vài năm
đầu vật lộn để leo dần lên những bậc thang xã hội, nhưng họ còn có động lực là
để được định cư ở Canada, tôi chẳng có chút ham hố nào, vì thế tôi thấy những
năm tháng tuổi trẻ như thế sẽ khá lãng phí.
Về Việt Nam thì mọi thứ dễ dàng hơn cho tôi, cả về vật chất,
tinh thần và sự cộng nhận của xã hội, nên có người cho rằng tôi đã hèn nhát và
yếu đuối, lại về rúc trong tổ ấm quen thuộc được bao bọc. Một ông bác đã mắng mẹ
tôi là chiều con quá, bao nhiêu người muốn bỏ tiền ra để đi còn không được, đây
mình lại về. Nhưng trong hơn hai năm qua ở Việt Nam tôi đã làm được nhiều thứ
hơn là nếu tôi đã ở Canada, tôi tin là thế.
Lần này cũng vậy, tôi cũng chẳng biết mình sẽ thế nào. Mọi người hỏi rất nhiều có định định cư ở Canada không, cứ như thể tôi đi là để ở lại, chứ không phải để học. Đi
đâu, ở đâu sau khi học xong, nhưng cũng rất may là tôi thấy việc trả lời những câu hỏi đấy không
quá quan trọng nữa. Đến lúc cần biết thì sẽ biết thôi mà. Cuộc đời có bao nhiêu
cơ hội, lập kế hoạch quá nhiều sẽ tự giới hạn bản thân và gạt bỏ những cơ hội
đó, có phải không?






