Về hay ở

Wednesday, 4 December 2013 Posted by Rain

Càng đi ra ngoài nhiều tôi càng bớt yêu Hà Nội.

Tôi vẫn chưa gặp được thành phố hay vùng đất nào khiến tôi yêu từ cái nhìn đầu tiên. Tôi không có nhiều ấn tượng lắm với điện đài, kiến trúc, sông núi hay thắng cảnh, nên những gì còn lại chỉ là con người. Mà bạn biết rồi đấy, tôi đã sống ở Hà Nội suốt hơn hai chục năm qua mà chưa bao giờ gặp được người nào khiến tôi phải thốt lên “Ôi, quả là một người Hà Nội chính gốc.”

Mỗi khi có ai hỏi tôi quê ở đâu, hay chìa giấy tờ tùy thân ra, thì tất nhiên tôi phải trả lời rằng mình là người Hà Nội. Có rất nhiều người không thỏa mãn với câu trả lời đấy, có lẽ trong thâm tâm họ nghĩ rằng, làm gì có ai là người Hà Nội, chỉ có những người ở nơi khác về đó sống lâu rồi tự nhận mình là người Hà Nội thôi. Trong trường hợp của tôi, thì cái lâu đó bắt đầu từ ông bà nội ngoại, nên tôi hầu như cũng không còn kết nối gì với những nơi ông bà tôi gọi là quê. Tôi là thế hệ mà nguồn gốc xa xôi nhất chỉ bám rễ được vào nơi không có ai cho đấy thực sự là quê cả.

Nhưng có những miền đất khiến tôi thấy dễ chịu, và muốn quay trở lại để sống, như Đà Nẵng chẳng hạn, phần lớn vì con người ở đó hiền hậu tốt bụng. Tôi không dám chắc rằng, nếu tôi là người nơi khác đến, liệu tôi có vương vấn gì với Hà Nội không. Hoa sữa quá ngắn ngủi, mặt nước hồ Tây mờ ảo mỗi ngày lại bị xẻ nhỏ hơn bởi những khách sạn, nhà hàng nổi, sân golf nước, và các đường kè chằng chịt. Chiều hôm qua trên đường về nhà đúng giờ tan tầm, sau lưng tôi có một chiếc xe cứu thương hú còi inh ỏi mà người và xe vẫn ken đặc. Tôi nhìn qua kính thấy chai truyền treo lơ lửng và người nhà trong xe nhấp nhổm không yên. Nếu tôi là họ, có lẽ đấy là lúc tôi thấy căm thù giao thông ở Hà Nội nhất. Nghĩ đến thế thôi mà cũng cay cay mắt (hoặc là do bụi).

Những gì người ta gán cho Hà Nội, hay đúng hơn là cho tình yêu của họ với Hà Nội, là những thứ đối với tôi hoặc đã mất hoặc quá sáo rỗng. Tôi ngờ rằng giá trị của Hà Nội đối với tôi bây giờ chỉ là những cơ hội nghề nghiệp, những hợp đồng giúp tôi kiếm tiền dễ dàng với bằng cấp của mình mà nếu không ở thủ đô thì khó mà vớ được. Và sợi dây kết nối tôi với Hà Nội không phải là với một thành phố đáng yêu, mà là với nơi mình đã quá quen. Có lẽ nếu có nhớ, tôi chỉ nhớ Hà Nội như một thói quen, một phần của kí ức, một chỗ để bám trụ vào quá khứ của mình cho khỏi phân vân quá nhiều mình là ai và mình thuộc về đâu. Mình thích ăn bún riêu và bánh cuốn, có thể ngồi ăn ở bất cứ đâu trên vỉa hè, kể cả gần cống hay bãi rác, thế chứng tỏ mình là người Hà Nội. Nhưng cả những sở thích đó, tôi biết rất rõ rằng chúng được hình thành từ thói quen, không phải từ lòng cảm mến.

Dĩ nhiên tôi sẽ nhớ những cảnh người người nhà nhà ngồi tràn lan trên vỉa hè, rất phơi bày nhưng cũng rất riêng tư, vì ai cũng nhìn thấy nhau nhưng không ai thật sự nấn ná trên khuôn mặt nào. Tất cả những con người đấy chỉ là một chấm trong bức tranh phố phường, họ có mặt nhưng cũng không có mặt. Giống như tôi có thể ôm người yêu trên xe máy, tựa cằm vào vai anh nhưng không dám nắm tay trước mặt gia đình. Ở trên phố, chúng tôi hữu hình mà vô hình, đám đông là một nơi an toàn để lẩn vào, cộng thêm hai cái khẩu trang, phụ kiện không thể thiếu của người Hà Nội, thì có bao nhiêu cơ hội để người khác nhận ra tôi? 

Ở Canada chẳng hạn, người ta không ăn uống ngoài đường, tất nhiên trừ BBQ thì đã là hẳn một kiểu ăn có phong cách riêng, còn lại tất cả phải ngồi đàng hoàng trong nhà, đường phố chỉ có nhà, cây và ô tô, trong những ngày mùa đông kéo dài đằng đẵng thì chỉ có những khối xám vật vờ, lúc mới sang tôi nhớ người biết bao nhiêu.

Và tôi cũng sẽ nhớ mùi hương đã cháy gần hết bảng lảng quanh mình khoảnh khắc tôi mở mắt mỗi sáng ngày rằm hay mùng một. Hay mùi thức ăn đang chín từ dưới bếp tỏa lên khi tôi bước ra khỏi phòng tắm lúc xế chiều, đi xuống là đã có mâm cơm nóng hổi ngon lành mà tôi không phải đụng tay. Nhưng điều đó dĩ nhiên không phải vì tôi ở Hà Nội, gia đình nào cũng có những giờ phút như thế.

Dạo gần đây có nhiều người hỏi tôi có định ở lại sau khi học xong không, câu hỏi chắc là du học sinh nào cũng phải trả lời người khác và trả lời chính mình. Tôi vật vã hỏi và loay hoay trả lời, có lẽ trong suốt cả bốn năm học đại học. Dĩ nhiên đấy không chỉ là vấn đề về hay ở, mà chỉ là một phần lớn hơn trong những băn khoăn và khủng hoảng của những người trẻ đang cố định hình cho cuộc đời mịt mờ của mình. Mình thích gì, mình có thể làm gì, mình cần gì, mình muốn gì, tưởng như là một chuỗi những chồng chéo đan xen phức tạp không bao giờ chấm dứt.

Tôi không nhớ chính xác mình đã quyết định về thế nào và từ lúc nào. Năm học cuối, tôi đã cảm thấy sự kết nối của mình với Việt Nam rất mong manh, và tôi rất bình thản quan sát kết nối ấy mờ dần. Tôi đã đủ thờ ơ để không còn quá quan trọng việc sống ở đâu nữa, như lời một câu hát thì là “đã hết buồn và hết vấn vương”. Không còn buồn vì nhớ nhà, cũng không còn vấn vương muốn quay về nữa.

Nhưng tôi không thấy cơ hội làm việc ở Canada sáng sủa cho mình. Trong suốt quá trình học, hết lần này đến lần khác tôi không thể xin việc, hoặc bị từ chối vì việc đó chỉ dành cho công dân Canada, hoặc ít nhất là người định cư lâu dài. Tôi không trách móc gì sự thật đấy, chỉ có điều nó luôn nhắc nhở tôi rằng tôi không phải là một phần của xã hội và sẽ có ít cơ hội hơn để cạnh tranh khi ở đây, và viễn cảnh sống lâu dài ở đó cũng không hấp dẫn tôi nhiều lắm. Có nhiều người sẵn sàng bỏ ra một vài năm đầu vật lộn để leo dần lên những bậc thang xã hội, nhưng họ còn có động lực là để được định cư ở Canada, tôi chẳng có chút ham hố nào, vì thế tôi thấy những năm tháng tuổi trẻ như thế sẽ khá lãng phí.

Về Việt Nam thì mọi thứ dễ dàng hơn cho tôi, cả về vật chất, tinh thần và sự cộng nhận của xã hội, nên có người cho rằng tôi đã hèn nhát và yếu đuối, lại về rúc trong tổ ấm quen thuộc được bao bọc. Một ông bác đã mắng mẹ tôi là chiều con quá, bao nhiêu người muốn bỏ tiền ra để đi còn không được, đây mình lại về. Nhưng trong hơn hai năm qua ở Việt Nam tôi đã làm được nhiều thứ hơn là nếu tôi đã ở Canada, tôi tin là thế.


Lần này cũng vậy, tôi cũng chẳng biết mình sẽ thế nào. Mọi người hỏi rất nhiều có định định cư ở Canada không, cứ như thể tôi đi là để ở lại, chứ không phải để học. Đi đâu, ở đâu sau khi học xong, nhưng cũng rất may là tôi thấy việc trả lời những câu hỏi đấy không quá quan trọng nữa. Đến lúc cần biết thì sẽ biết thôi mà. Cuộc đời có bao nhiêu cơ hội, lập kế hoạch quá nhiều sẽ tự giới hạn bản thân và gạt bỏ những cơ hội đó, có phải không? 

Dịch chuyển

Tuesday, 12 November 2013 Posted by Rain

Mỗi lần dịch chuyển, trong chừng mực nào đó, là một cơ hội để làm lại từ đầu.

Lần dịch chuyển đầu tiên của mình là năm lên lớp 10. Từ lớp 2 đến lớp 9 mình được làm lớp trưởng, rồi bí thư Đoàn, nói chung là vào loại có chức có quyền trong lớp. Nhưng tất cả bắt đầu từ một sự ngẫu nhiên. Hồi lớp 2, khi cô giáo mới nhận lớp và chưa biết cháu nào với cháu nào, cô muốn bầu ra một bạn lớp trưởng. Khi cô đang quét mắt rà soát khắp lượt thì mình ngẩng lên và nhìn vào mắt cô. Thế là cô chỉ định luôn, vẫn còn nhớ hồi đấy mình tết tóc hai bên. Trong suốt những năm làm lớp trưởng đấy, mình luôn mơ hồ cảm thấy là mình thật ra không thích hợp cho vị trí này, vì chẳng đứa nào sợ mình, mình không có uy, không giữ được trật tự lớp, dằn vặt bản thân những lần vì nghĩa vụ mà phải báo cáo cho thầy cô giáo những bạn nào "yêu nhau" ở trong lớp. Mình luôn canh cánh trong lòng câu hỏi, có phải tất cả chỉ là thói quen, vì mình đã làm lớp trưởng lớp 2 nên làm tiếp lớp 3, rồi một mạch hết cấp 1. Khi xin vào trường cấp 2 thì bố mình đã dẫn thành tích làm lớp trưởng và cô hiệu trưởng nhận luôn hồ sơ mà không cần kì kèo nhiều, nên mình lại tiếp tục làm lớp trưởng hết cấp 2. Mình luôn muốn biết có phải là mình thật sự xứng đáng với vai trò đấy, hay tất cả chỉ là kết quả kéo theo của một sự tình cờ.

Thế nên lúc vào lớp 10, mình giấu tiệt cái lý lịch hoành tráng đấy đi, nhất quyết không khai ra khi lớp bắt đầu bầu bán ban cán sự. Lần đầu tiên, mình sống cuộc đời dân thường trong lớp, và cảm giác như bị mất đi một ít bản dạng (identity) của mình. Quen được các bạn cùng lớp gọi là "lớp trưởng", quen được làm trung tâm của sự chú ý, quen là đại diện của quyền lực được trao gửi từ phía các thầy cô, mình đã bị mất phương hướng một thời gian dài. Mình nhớ bọn bạn cũ, những đứa luôn gọi mình là "chị", yêu quý mình và nể trọng mình. Mình sống như một con kiến câm lặng trong tập thể lớp 10 đấy, thấy không thoải mái với sự bỗ bã cười cợt của những đứa ngồi xung quanh, không biết nói gì với bọn nó. Bọn nó thấy mình ngồi rù rù một góc, cũng không hỏi.

Phải mất rất lâu, rất lâu, mình mới tìm được một vài đồng minh là những cô bạn ngoan hiền như mình, trong đó, phần lớn là những cô có nhu cầu nói khủng khiếp mà không có ai nghe. Họ chơi với mình vì mình lặng lẽ và kiên nhẫn, chỉ vì không biết từ chối ra sao, ngồi nghe những câu chuyện kéo dài hàng tiếng đồng hồ, xuyên từ tiết học này sang tiết học khác của họ.

Đến cuối năm lớp 11 thì mình được bầu làm lớp phó, vì học giỏi văn, mà cô chủ nhiệm dạy văn, còn lý do nào nữa hay không thì mình không biết, nhưng mình rất hài lòng vì đã trả lời được câu hỏi của bản thân suốt 7 năm làm lớp trưởng. Có thể trong bản thân mình có một phẩm chất gì đó, có thể mình xứng đáng, có thể đấy không phải là kết quả của cái liếc mắt ngẫu nhiên. Có thể dù hôm đó mình không ngẩng lên nhìn cô giáo, thì mình vẫn sẽ làm lớp trưởng, qua con đường này hay con đường khác.

Lần dịch chuyển thứ hai của mình là lúc lên đại học. Mình cố sống cố chết để đi du học cũng vì muốn trả lời câu hỏi "giới hạn của mình nằm ở đâu". Có một lần hồi lớp 9 đi chơi xa bằng xe đạp bị lạc, ngày hôm đó mình đã đạp khoảng 60km cả đi cả về, mà bản thân không bao giờ nghĩ mình có thể đạp xe như thế. Từ đó nghĩ rằng, khi bị đặt vào những hoàn cảnh cùng cực, mình sẽ khám phá ra được những khả năng của bản thân. Việc đi du học chính là để đặt mình vào một hoàn cảnh như thế.

Và cái sự cùng cực đấy chính là việc cảm thấy vô cùng lạc lõng, không có gì để bám trụ, tất cả những cái từ trước đến nay mình biết và coi là một phần của identity đều bị xóa sạch. Không chỉ là một vai trò cụ thể như là "lớp trưởng" nữa, mình chẳng còn gì cả. Con ngoan, trò giỏi, thanh niên năng động. Ở chỗ không ai biết mình là ai, sau khi giới thiệu tên, quốc tịch, mình chẳng biết nói gì nữa. (Chưa kể với phần lớn những người ở đó, tên và quốc tịch của mình cũng quá xa lạ và chẳng gợi ra điều gì). Không có dấu mốc nào để bám vào mà nói tôi là ai. Giữa những người lạ hoắc và quá khác biệt, mình chẳng biết nên tô vẽ gì để ra được hình ảnh của bản thân. Cứ loay hoay, loay hoay như thế.

Thời gian đầu thì ban ngày mình căng như sợi dây đàn, ban đêm lại bị hành hạ bởi những giấc mơ mang mình trở lại quá khứ, chỉ để lúc tỉnh dậy mình ngơ ngác và cay đắng nhận ra hiện tại là mình đang ở một nơi hoàn toàn xa lạ và không thể chạm vào những người mình muốn gặp. Rất nhiều lần trong những giấc mơ đấy, mình đang chuẩn bị làm một việc gì đó rất vui, rồi trong mơ tự ngừng lại và hỏi: "nhưng mà bây giờ mình có còn ở đây nữa đâu? thế thì mình đang ở đâu nhỉ?" rồi tỉnh dậy. Thời gian sau mình co rút vào vỏ ốc, nhiều lúc cảm thấy mình chẳng còn kết nối với chỗ nào, gia đình hay bạn bè cũng không còn quá quan trọng. như con diều đứt dây, bay về hướng nào cũng thế.

Mình cũng rất hài lòng khi vào những ngày cuối cùng, cũng có những người yêu mình và buồn khi chia tay mình, dù họ không phải là những sinh viên bạn học cùng như mình tưởng tượng trước đó. Tức là, cho dù thế nào, mình cũng tìm được những người yêu quý mình. Tức là mình có một bản chất gì đó để người khác yêu quý, chứ không phải chỉ vì mình là con ngoan, trò giỏi, học sinh gương mẫu. Mình cũng không biết mình có trả lời được câu hỏi ban đầu về khả năng phi phàm của bản thân không. Chỉ nhớ là, mình tự rút ra một câu mantra để nghĩ trong đầu mỗi khi đương đầu với một khó khăn to oạch "việc gì rồi cũng sẽ qua". Mình đã nghĩ như thế lúc bị người yêu đá, lúc phải một mình vác giường vác tủ, lúc thấy quãng đường đi phía trước thật là dài. Nỗi buồn sẽ qua, niềm vui cũng sẽ qua. Mình vật lộn với những câu hỏi "mình muốn gì, mình cần gì, mình giỏi cái gì, mình nên làm gì" trong suốt những năm ấy. Rồi tất cả cũng qua.

Lần này lại sắp sửa một bước chuyển dịch mới. Mình hiểu là mình có thể xóa sạch tất cả những gì mình đã có, và làm lại từ đầu. Ở nhà nếu đi chơi mình phải về lúc 9 rưỡi tối, nhưng đi rồi mình có thể ở ngoài đường thâu đêm. Sẽ không ai biết mình đã từng thế nào, hay mình nên là người ra sao. Không ai có kì vọng mình phải hành xử như mình mà họ biết. Cái suy nghĩ đó vừa tự do, vừa đáng sợ. Ở trong một chừng mực nào đó, mình có thể tự tạo ra mình, một con người mới, với những người mà mình sắp gặp và sẽ sống cùng trong ít nhất 2 năm.

Chỉ có điều, hai lần trước mình đều có những câu hỏi rất thôi thúc, lần này thì chưa xác định rõ câu hỏi mình muốn trả lời là gì.

Oh, probably I want to find out what it is that I really love, a person, a thought, a philosophy, a project, or anything that I love deeply and unconditionally.

Phân tích giới dựa vào Google

Thursday, 7 November 2013 Posted by Rain



Việt Nam có rất nhiều lý do để lạc quan về một thế hệ mới hội nhập cùng thế giới nhờ sử dụng Internet thành thạo. Các nghiên cứu gần đây cho ra những con số rất ấn tượng. Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người dùng Internet nhiều nhất thế giới, và là một trong hai nước có số lượng người dùng lớnnhất trong khu vực Đông Nam Á. Tỉ lệ số người dùng chiếm đến 34% dân số, với nhóm tuổi từ 15-19 và 20-24 chiếm nhiều nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì dân số Việt Nam là dân số trẻ, và trong những năm gần đây, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã cố gắng để giữ mức cước vừa túi tiền với đại đa số người dân.

Tuy số người dùng và cả thời lượng Internet đều nhiều vào loại nhất nhì khu vực, nhưng qua khảo sát, phần lớn người dùng ở Việt Nam dành thời gian để truy cập các tin tức giải trí, các mạng xã hội, download nhạc, phim, thay vì dùng Internet để đưa ra chính kiến của mình hay để kết nối với nhữngngười cùng chí hướng để tạo ra những thay đổi tích cực trong xã hội.

Tôi làm một thí nghiệm nho nhỏ phỏng theo một chiến dịch được công bố hồi tháng 10 của UN Women (Cơ quan Liên Hợp Quốc thúc đẩy bình dẳng giới và trao quyền cho phụ nữ). Chiến dịch này là những bức ảnh sử dụng thông tin từ Google. Khi người dùng gõ những dòng chữ “phụ nữ không thể” thì Google sẽ tự động gợi ý một số từ được người dùng Internet tìm nhiều nhất, như “phụ nữ không thể lái xe”, “phụ nữ không thể phát biểu trong nhà thờ”, “phụ nữ không thể được tin cậy”. Đây là một minh chứng sống động về việc những định kiến nhắm vào phụ nữ vẫn hiện diện, ngay cả trong thế giới không có những lằn ranh về lãnh thổ, tuổi tác, sắc tộc và giới tính như Internet.

Những người dùng Internet ở Việt Nam thì sao? Google là công cụ tìm kiếm được biết đến nhiều nhất và sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam. Vì người dùng Internet chủ yếu là giới trẻ ở các thành phố lớn, có học thức, có điều kiện tiếp xúc với nhiều luồng tư tưởng và dễ tiếp nhận suy nghĩ mới, Google chắc chắn cũng thu thập được những dữ liệu hé mở về những gì những người trẻ và có học thức ở Việt Nam quan tâm.
   








Những kết quả đầu tiên cho thấy, so sánh với việc tìm bằng tiếng Anh, kết quả của cụm từ tương đương bằng tiếng Việt (women should not, women need, women must) không mang lại những gợi ý cực đoan và đầy tính kì thị như trong chiến dịch của UNWomen. Đây có phải là là tín hiệu mừng vì Việt Nam mình kì thị phụ nữ ít hơn chăng?

Tôi e rằng kết luận như vậy là quá sớm. Thứ nhất, người Việt vốn không ưa tranh luận, nên sẽ tránh đưa ra những ý kiến dễ bị ném đá. Truyền thống của ông bà để lại nào là “một điều nhịn là chín điều lành”, “dĩ hòa vi quý”, “cơm sôi nhỏ lửa”, “xấu chàng hổ ai”, tất cả đều hướng đến sự nhường nhịn để giữ gìn hòa khí chung. Về mặt này, đời sống Internet của người Việt chắc chắn cũng bị ảnh hưởng từ đặc tính văn hóa. Mặc dù trong tỉ lệ người dùng và cả thời lượng dùng Internet, nam giới chiếm nhiều hơn, nhưng lại chủ yếu dành thời gian để chơi game và tải phim, tức là để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, trong khi nữ giới lên mạng để đọc tin tức, vào các mạng xã hội, chat với bạn bè, tức là  để kết nối với người khác. Đây là xu hướng chung ở nhiều nước. Vì thế, có cơ sở để tin rằng những tìm kiếm trên Google ở Việt Nam cũng chủ yếu do nữ giới thực hiện, những người đã thấm nhuần tư tưởng không nên đặt mình đối lập với đám đông.

Thứ hai, người dùng vẫn hướng đến việc tìm kiếm thông tin hơn là tìm kiếm quan điểm hay tư tưởng. Nhất là ở dòng "phụ nữ nên", một loạt các gợi ý được đưa ra là các câu hỏi về việc ăn gì, học gì, làm gì. Người dùng Internet chưa có thói quen sử dụng nó như một công cụ để tìm kiếm các luồng suy nghĩ, mà mới chỉ dừng lại ở cấp độ thông tin để giải quyết cho những khúc mắc cụ thể. Điều này không có gì ngạc nhiên trong tình cảnh nội dung đưa trên Internet đều ít hay nhiều chịu sự kiểm duyệt của nhà nước. Bộ Văn hóa Thông tin cùng rất nhiều bộ ngành khác chịu trách nhiệm về việc quản lý các thông tin trên mạng đã tìm nhiều cách để lèo lái dư luận theo ý mình muốn, từ cấm, chặn, cho đến sử dụng một đội ngũ dư luận viên hùng hậu được đào tạo để hướng suy nghĩ của cộng đồng người dùng mạng theo chiều hướng chấp nhận được, tức là có thể nóng bỏng nhưng vô thưởng vô phạt, tranh luận thế chứ tranh luận nữa cũng chẳng ảnh hưởng đến ai. Từ yếu tố tự nhiên là văn hóa, cho đến yếu tố xã hội là cố gắng của nhà nước trong việc điều khiển thông tin trên mạng, nên đại đa số người dùng Việt Nam vẫn không quan tâm đến nhiều đến những suy nghĩ, mà phần lớn dừng lại ở mức độ thông tin rời rạc, lẻ tẻ. Đấy cũng là chiều hướng được lèo lái. Nếu người dân không hệ thống hóa được các hiện tượng xã hội và chỉ nhìn chúng như các sự kiện tách biệt, hôm nay có người bị vứt xác trôi sông, ngày mai có người bị chặt đầu, ngày kia có người đi tù oan, thì nhà nước sẽ rất dễ điều khiển.

Tôi mở rộng thí nghiệm này và thử gõ các dòng chữ tương tự nhưng bắt đầu bằng "đàn ông"


Điều rất dễ nhận thấy khi đặt hai tìm kiếm này cạnh các tìm kiếm về phụ nữ, là mặc dù thái độ về giới của người dùng Internet ở Việt Nam không cực đoan, nhưng lại vô cùng cứng nhắc. Nói đến phụ nữ là phải đẹp, phải lấy chồng, phải ở trong vai trò làm mẹ và làm vợ, còn nói đến đàn ông là nói đến tiền, địa vị xã hội và tình dục. Các từ khóa tiếng Anh còn đưa đến bức tranh về phụ nữ trong xã hội, ví dụ như phụ nữ không thể làm đức giám mục, phụ nữ không thể bầu cử, còn các từ khóa tiếng Việt chỉ đặt phụ nữ trong một mối quan hệ duy nhất, là mối quan hệ với đàn ông. Phụ nữ cần đàn ông, phụ nữ cần chồng, phụ nữ cần thằng đểu. Dĩ nhiên nguyên tắc này cũng áp dụng với đàn ông. Đàn ông cần gì ở phụ nữ, đàn ông cần gì ở người yêu, đàn ông cần gì ở vợ. Nhưng có một thứ đàn ông cần mà không thấy xuất hiện khi tìm về phụ nữ là "cần gì ở trên giường". Điều này cũng nói lên rất nhiều về thái độ của xã hội Việt Nam nói chung về tình dục cho nữ giới. Phụ nữ cần làm đẹp, cần làm vợ, cần làm mẹ, nhưng không cần làm người tình.

Cuối cùng là, một điều đơn giản tôi nhận thấy sau những phân tích trên, là vấn đề giới ở Việt Nam không phải không tồn tại, mà không được nói đến. Người ta có thể nói những vụ vợ bị chồng đánh, bị đối xử tàn bạo, các cô gái bị bạo hành, lạm dụng, nhưng không ai gọi thành tên những hiện tượng ấy hay coi chúng là biểu hiện của một hệ thống lớn hơn, mà chỉ xoáy sâu vào chỉ trích, phê phán trường hợp cụ thể rồi lại nhanh chóng quên đi. Không ai lớn tiếng nói rằng phụ nữ không được làm cái này cái nọ, bởi thật sự họ không cần nói. Từ xưa đến nay không có ai đặt câu hỏi tại sao không được làm, vì thế cũng không ai phản kháng. Không ai hỏi "Tại sao đàn ông lại phải mạnh mẽ?" nên người ta chỉ đi tìm cách cho mình mạnh mẽ, chứ không ai nói rằng "Tôi là đàn ông và tôi không muốn mạnh mẽ".

Nhưng họ không nói tới chuyện đó, thậm chí không nghĩ đến. Tư duy phê phán (critical thinking) không phải là để hùa theo đám đông la ó chê bai một hiện tượng nhỏ lẻ. Tư duy ấy là khi người ta bứt ra khỏi những điều mình cho là tự nhiên và bình thường, để nghĩ từ một góc độ khác. Bước đầu tiên để thay đổi một điều gì đó, là phải nghĩ về nó đã. Tiếp đó mới đến đặt câu hỏi, và khi không có câu trả lời thỏa đáng, người ta mới thấy thôi thúc để tạo ra thay đổi nào đó. Vì thế, sự thiếu hụt những gợi ý cực đoan của Google khi tôi tìm kiếm những cụm từ liên quan đến phụ nữ và đàn ông ở Việt Nam chưa hẳn đã là dấu hiệu đáng mừng. Nó không thể hiện rằng Việt Nam không có bất bình đẳng giới, mà có thể đơn giản là vì người dùng Internet ở Việt Nam, những người trẻ nhất, có học nhất và có điều kiện tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhất, chưa hề nghĩ đến và gọi tên những điều họ cho là bình thường.

Trại viết ở Hội An

Thursday, 31 October 2013 Posted by Rain

Hoàng hôn trên sông Cổ Cò nhìn từ ban công 


Một trong những lợi ích của việc làm tự do là thỉnh thoảng có những ngôi sao may mắn to đùng rơi ùm xuống đầu. Mình vừa trải qua một dịp may hiếm có trong đời như vậy khi được mời tham gia vào một Trại Viết ở Hội An mà không cần ứng tuyển hay đấu đá với ai, chỉ là do một người bạn giới thiệu, thế là đến ngày kéo vali đủng đỉnh ra sân bay và đến Hội An được ở resort, ăn ngon, được gặp những người thú vị bình thường mình chỉ đứng từ xa ngó mà chẳng phải bỏ ra xu nào. Rõ là oách xà lách!

Sở dĩ mình nói đây cũng là lợi ích của cuộc sống chẳng thuộc về cơ quan đoàn thể nào bởi vì nếu đang đi làm ngày 8 tiếng như mọi người khác, chắc chắn mình không thể tỉnh bơ bỏ đi tận 5 ngày để lánh đời và bàn những vấn đề ghê gớm như tự do, công bằng, bác ái. Điều này cũng được chứng minh bởi các thành phần tham dự còn lại. Tất cả thành viên có thể chia làm hai dạng. Một là chức vụ rất cao, quản lý, giám đốc, viện trưởng, thích nghỉ lúc nào thì nghỉ, chẳng ai làm gì được. Hai là không có công ăn việc làm ổn định như mình, thích đi đâu thì đi, không ai giữ.

Từ xưa mình đã nghe đến việc các nhà văn, những người giỏi viết được đi trại sáng tác, nhưng mình chưa bao giờ hình dung ra được trại sáng tác là thế nào. Có thể giống như các thí sinh đi thi, mỗi người ngồi trong một cái lều con con rồi hì hục viết, sau đó sẽ có người bình văn để tất cả cùng nghe (không hiểu đông như thế, ngồi ở ngoài trời mà không có micro thì nghe kiểu gì) như Ngô Tất Tố miêu tả trong Lều Chõng. Mình cũng lo lắng hết sức khi đọc danh sách những người sẽ tham dự, một số mình biết tên biết mặt, một số đã có những trao đổi ngắn trên mạng, nói chung toàn hàng khủng. Mình không hiểu một đứa không có thành tích hay kinh nghiệm gì nổi trội như mình sẽ sống mấy ngày giữa những vĩ nhân đó như thế nào. Nói chung là mình bước vào "trại" với tâm trạng vô cùng bối rối.

Hội An và Đà Nẵng vừa qua bão, nhưng ngoài những bao cát tròn được xếp cạnh nhau để chặn ở mái tôn và mái ngói thì không khí vẫn yên bình và chậm rãi như mọi khi. Resort mình ở nằm ngay bên cạnh bờ sông và đồng lúa, có cò, có trâu, có thuyền nan be bé, có những tiếng người í ới gọi nhau đi làm đồng. Hôm đầu tiên đến, mình nhắm mắt lơ mơ ngủ và nghĩ ô cửa sổ này có thể bán được cho khách nước ngoài (quả thật ở đấy toàn người nước ngoài, có mỗi đoàn "trại" của mình là người Việt Nam), chứ mình là người Việt mà ở trong căn phòng mỗi ngày hơn hai triệu này đánh mắt ra là thấy những người nông dân đang còng lưng sau con trâu và biết đấy là thu nhập cả năm trời của người ta, thì không thể nào không bị cắn rứt. Mình không thích như thế.

Trại viết cuối cùng trở thành trại thảo luận, hay một cách dân dã hơn là trại chém gió. Sáng mở mắt dậy được ăn sáng và hưởng gió mát lồng lộng rất dễ chịu từ sông thổi qua, rồi bắt đầu lục đục đến trường đại học Phan Châu Trinh để học với nhà văn Nguyên Ngọc. Trưa về ăn trưa rồi ngay lập tức thảo luận nhóm theo chủ đề. Thảo luận xong ăn tối. Đáng lý ra đây là giờ tự do, nhưng vì bản chất của những con người cực khủng mình đã nói ở trên, nên kể cả những câu chuyện phiếm trong bàn ăn hay khi đi uống cafe cũng vòng trở lại những vấn đề rõ là sâu sắc và rộng lớn nghe xong muốn nổ cái đầu.

Đỉnh điểm là hôm thứ hai của trại viết. Sáng thảo luận về nghệ thuật, làm thế nào để có được tự do trong nghệ thuật,  ranh giới cho sự tôn trọng tính sáng tạo có thể kéo giãn đến đâu, khi nào thì nghệ thuật có động cơ chính trị, những trường hợp điển hình được bắn ra chiu chíu, làm thế nào để giáo dục nghệ thuật một cách gần gũi và hiệu quả nhất, việc đối xử với người làm nghệ thuật ở Việt Nam như thế nào, có phải chúng ta không có nghệ sĩ giỏi, bộ óc lớn, hay vì họ đang bị kìm kẹp nên không thể phát tiết tinh hoa.

Sau đó đi ăn trưa. Đi ăn trưa rồi đi học với bác Nguyên Ngọc, bác nói về tính sử thi và tính hiện đại trong tiểu thuyết. Rồi về Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, về sự yếu kém của dân tộc. Anh Thành, một nhà kinh tế học vô cùng uyên bác và thông minh, đã nối tiếp ý của bác Ngọc để dùng vị trí địa lý mà giải thích lịch sử, rồi dùng lịch sử mà giải thích chính trị, dùng chính trị mà giải thích hiện trạng xã hội của chúng ta hiện nay. Trên thế giới chỉ có Nhật và Anh là hai quốc đảo được tách ra khỏi các đại lục, chính vì thế họ không bị thâu tóm mà phát triển được những vùng có lãnh chúa tự quản, và đó chính là nền tảng của dân chủ và tầng lớp trung lưu. Còn những nước bên rìa những nền văn minh lớn như Việt Nam ở cạnh Trung Quốc thường có sức đề kháng văn hóa yếu, và đấy chính là lý do chúng ta đã không chống lại được chủ nghĩa Cộng Sản khi cơn bão quét qua. Mình nghe mà não bật tanh tách như tôm, như có mấy cái bóng đèn được chuyển công tắc. Anh Thành làm cho mình cảm giác giống như mỗi khi nghe ông giáo sư Pradeep nói chuyện hay giảng bài, tức là làm cho mình càng thèm khát đọc nhiều và hiểu nhiều hơn, bởi vì kiến thức thật là rộng lớn.

Chưa hết, tiếp đó là về ăn cơm tối và 9h lại tiếp tục ra bờ sông ngồi thảo luận về nhân quyền. Tất nhiên những câu chuyện trong bữa ăn đó cũng siêu hình không kém gì cuộc trao đổi trong lớp. Hàng loạt các ví dụ được đưa ra, khi nào thì nhà nước phải để cho nhân dân tự do, khi nào thì phải bảo vệ. Cái nào là quyền, cái nào là lợi ích. Khi quyền của người này là sự phẫn nộ của người khác, ví dụ như một nghệ sĩ có quyền sáng tác tự do, nhưng lại vẽ tranh đả kích thánh thần hoặc lãnh tụ của những người khác và họ thấy bị xúc phạm thì phải giải quyết mâu thuẫn ra sao. Mọi người tranh luận sôi nổi đến mức nhiều lần phải dừng lại để lấy số thứ tự, ai được nói trước, ai được nói sau. Đến mười một giờ, quầy bar của resort đóng cửa, cuộc tranh luận được chuyển vào phòng riêng và giữ nguyên độ nóng cho đến tận mười hai rưỡi.

Mình lê xác trở về phòng, đầu bung bung như có ai gẩy dây đàn guitar ở bên trong. Nhưng mà rộn ràng sung sướng. Những cuộc trao đổi bên sông đó thật là đặc biệt. Trăng thanh ở trên đầu, sao nhấp nháy ở phía xa, gió thổi dịu dàng như một bàn tay vuốt nhẹ trên vai áo, quây quần xung quanh bàn là những con người có kinh nghiệm khác nhau, đấu tranh vì những thứ khác nhau, và làm ở những lĩnh vực cũng rất khác nhau. Tất cả cùng lắng nghe và nói ra điều mình suy nghĩ. Khoảnh khắc đó đẹp đến nỗi mình muốn đông cứng nó lại, bỏ vào túi mang về nhà. Có lẽ những cuộc tranh biện giữa các giáo sư ở Harvard cũng chỉ đến thế thôi, họ có thể biết nhiều hơn, lý lẽ sắc sảo hơn, nhưng sự tôn trọng và cởi mở có lẽ cũng chỉ đến thế. Mình thỉnh thoảng hỏi một câu ngô nghê, và nghĩ về những con người đầu tiên của xã hội trong tưởng tượng của Rousseau, khi họ ngồi cùng với nhau để vạch ra những khế ước (social contract) dựa trên những điều mọi người cùng tin là đúng và đồng ý, có lẽ cũng giống như thế này.

Có gì đó rất siêu thực trong những giây phút đó. Mình thấy lâng lâng và êm dịu, mặc dù cả về thể chất lẫn trí lực đều mệt nhừ sau cả một ngày ngồi, lắng nghe, ghi chép và nhồi vào đầu vô vàn suy nghĩ, ý tưởng. Có thể cảm giác đó giống như khi mình bơi được một kilomet liên tục và cơ thể tiết ra một hormone gì đó khiến mình cảm thấy mọi thứ hình như rõ nét hơn và cuộc đời trong trẻo hơn. Ngay lúc đó mình đã cảm nhận rõ mồn một, rằng có một cái gì đó đang thoát ra khỏi những níu kéo hàng ngày, có thể chưa bay được, nhưng đang thoát ra, giống như khi mình tự do vùng vẫy dưới nước mà không phải lo về chuyện bám vào bờ.

Sau ba ngày ngắn ngủi, có ba điều mình thu thập được. Thứ nhất là đã một lần nữa đối mặt với nỗi sợ khi ở cạnh những người quá giỏi, cũng là nỗi sợ khi phải vào một môi trường mình không quen thuộc và không thoải mái. Mình biết nỗi sợ đó là vô lý, và nó đến từ sự bất an và thiếu tự tin của bản thân, nhưng mình cũng biết cứ phải gặm nhấm nỗi sợ đó lần này qua lần khác thì mới mong nó dần dần bé lại. Từ chỗ không biết sẽ nói gì với những siêu sao nổi tiếng này đây, mình đã thoải mái kể cả khi im lặng bên cạnh họ. Mình biết họ cũng chỉ là người, và con người thì vốn đều có nỗi sợ của riêng mình, và một lần nữa sợ và để nỗi sợ trôi qua và nhận ra, là nhận ra chứ không phải nghĩ ra, rằng nỗi sợ đấy rất chi vô lý.

Điều thứ hai là cảm nhận rõ ràng về trách nhiệm viết và trách nhiệm chia sẻ. Trước nay mình viết vì thích, vì nhiều khi viết xong mình có được cảm giác hài lòng khó tả và thấy được lấp đầy. Mình cũng thích được công nhận, nên đôi khi viết là cách để người khác biết đến mình, nhưng phần lớn là viết khi suy nghĩ đòi nhảy ra khỏi đầu, tóm lại vẫn là để thỏa mãn bản thân. Sau khi được đào tạo ba ngày, mình hiểu ra rằng đã được học, được tiếp cận với tri thức, và có công cụ để phổ biến tri thức, thì phải làm, nếu không làm là có lỗi với sự may mắn của mình. May mắn càng nhiều thì trách nhiệm càng lớn. Cũng như thế, từ nay mình sẽ viết tiếng Việt nhiều hơn, sẽ không bỏ cuộc khi có một khái niệm nào đó khó truyền tải bằng tiếng Việt, mà sẽ cố gắng giải thích nó và coi đấy là việc phải làm, thay vì chuyển sang viết tiếng Anh cho dễ, vì như thế là lười biếng.

Điều cuối cùng, câu hỏi xuyên suốt của toàn bộ chuyến đi này, là làm thế nào để xã hội tốt đẹp hơn. Từ những con người mình đã ăn cùng, ngủ cùng, học cùng, nói cùng, câu trả lời rút ra là, mỗi người hãy tự làm thật tốt phần việc của mình, và chia sẻ với nhau trong khi làm. Bởi vì mọi câu chuyện trên đời này đều đã được kể, chỉ là theo những cách khác nhau, khi nói ra câu chuyện của mình, bạn sẽ thấy những người khác cũng đang giữ trong lòng một câu chuyện tương tự.

Tại sao người Việt Nam vô cảm?

Tuesday, 1 October 2013 Posted by Rain

Gần đây, báo chí và những người trên mạng chỉ trích lẫn nhau, và  phê phán những người trẻ khá nhiều về chuyện vô cảm, vô tâm, thờ ơ với thời cuộc, người xung quanh, xã hội. Họ nói như thể đấy là một đặc tính cố hữu của người Việt Nam, và cũng như mọi khi, chỉ trích chỉ để mà chỉ trích, tức là không phân tích tại sao lại như thế, cũng không nói phải làm thế nào để thay đổi. Tất cả cứ như một dàn đồng ca, thi nhau xỉa xói rằng người Việt vô tâm, người Việt lạnh lùng đến tàn bạo. Các bác người lớn đĩnh đạc trong nhà nước thì thường nói, giới trẻ ngày nay biến thái, vô cảm vì ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, của văn hóa phương tây, của các trang mạng xã hội độc hại, những câu các bác lải nhải bao nhiêu năm qua mà có khi cũng chẳng hiểu mình đang nói gì. Bản chất của cái việc phê bình mà không đưa ra nguyên do đấy khiến mình khó chịu không kém việc phải chứng kiến những biểu hiện của việc vô cảm kia.


Theo mình thì việc người ta thờ ơ, không dám lên tiếng khi chứng kiến cái xấu, không dám quan tâm khi nhìn thấy người bị nạn, bịt mắt trước những tổn thương của người khác, có mấy nguyên do thế này.

Thứ nhất, ngay từ bé, người ta đã không được phép quan tâm. Một đứa trẻ dám hỏi những câu mà cô giáo không biết sẽ bị quát bắt ngồi xuống, thay vì được khuyến khích hỏi tiếp. Một đứa trẻ dám thắc mắc khi nhìn thấy người lớn đưa bó hoa kẹp phong bì sẽ bị kéo đi, thay vì được trả lời. Có quá nhiều thứ một đứa trẻ lớn lên ở thành phố trong xã hội Việt Nam hiện đại (đối tượng bị phê phán chủ yếu, mấy người nông dân làm ruộng hoặc công nhân may chảy máu ngón tay có thấy bị chê là vô cảm bao giờ đâu), phải học cách hiểu và chấp nhận trong im lặng.

Từ cấp một lên cấp ba, mình bao nhiêu lần phải ngồi chép mỏi tay những bài thi tìm hiểu pháp luật, tìm hiểu Đoàn gì gì đó đơợc phát động mà không hiểu tí gì mình đang chép, chỉ biết là phải nộp cho xong. Rồi một đứa làm chi đội trưởng, liên đội trưởng, trong Đội Thiếu Niên Tiền Phong (đội ngũ kế cận của Đoàn, tức đội hậu bị của Đảng) cũng biết cách bịa đặt từ bé để ghi vào sổ những buổi sinh hoạt chi đội không diễn ra. Lúc đầu cô tổng phụ trách đọc cho viết, sau này đã quen thì tự bịa ra dựa vào các tháng trước. Tất cả những việc không đúng sự thật đó diễn ra như nước thấm dần, có thể đứa trẻ cắc cớ hỏi một hai lần, nhưng rồi nó cũng sẽ nhanh chóng học được cách im lặng. Mà để im lặng trước những điều không hiểu, không hợp lý, thì người ta phải lờ đi, phải giả như không biết, không nghĩ đến, lâu dần sẽ quen.

Đó là chưa kể sức ép phải giống như mọi người của một xã hội đã hàng nghìn năm vận động theo mô hình làng bản, tức là "lệ làng" là quyền uy tối thượng. "Phép vua" - tức là pháp luật quy chuẩn của nhà nước phải thua, thì tất nhiên cái tôi cá nhân bị đè bẹp dúm. Nếu lệ làng là nhìn thấy người ăn xin phải quay mặt đi, xua tay, thì ai không làm như thế sẽ bị coi là kì dị. Lệ làng là đi ngoài đường phải chen vào bất cứ khoảng trống nào, nếu không chen mà cứ nhường thì sẽ chôn chân mãi ở một chỗ. Mình nhớ hồi mới từ Canada về, quen thói lịch sự giữ cửa cho mọi người qua, không những không có ai nói câu cảm ơn mà tất cả mọi người cắm đầu đi qua, mình cứ đứng giữ mãi cuối cùng đành bỏ ra để cắm đầu đi giống mọi người.

Cũng là hồi mới về, mình hay có cảm giác khá khó chịu là thấy mọi người như đang di chuyển trong một quả bóng trong suốt, không ai tchạm vào ai. Có lẽ cảm giác đấy đến từ quá nhiều những xét nét (đi xe đạp thì sẽ không dám vào cửa hàng mua quần áo, mặc quần ngố thì không dám vào cửa hàng buffet) mà mọi người phải giữ kẽ để sống cho đúng khuôn khổ của nhau, và từ việc không ai dám quan tâm đến những điều có vẻ khác thường.

Nguyên nhân thứ hai của sự vô cảm (vô thưởng vô phạt) là do thiếu thông tin. Những thông tin đáng bàn nhất, đáng để gây tranh cãi nhất, đáng lẽ ở nước khác có thể gây ra bao nhiêu cuộc bút chiến hay khẩu chiến sâu sắc, thì ở nước ta đều bị bưng bít. Ví dụ như chẳng ai được phép nói về việc dân ở chỗ này chỗ kia đang khởi kiện chính quyền vì thu đất không đúng, dân đang vật vã bệnh tật vì nhà máy sản xuất xả chất thải công nghiệp vào nguồn nước mà kêu không ai xử lý, dân bị đàn áp, dân bị mất mùa vì tính toán sai của những doanh nghiệp thu mua nguyên liệu nhà nước, dân đánh cá đang bị Trung Quốc bắn tỉa. Tất cả những vấn đề không thể được nói đến đó đương nhiên tạo ra một khoảng trống lớn trên báo đài, và những cơ quan này lại phải lấp vào bằng những tin chẳng ảnh hưởng đến ai, những vụ việc mà dù có đấu khẩu hăng hái cỡ nào cũng không gây nguy hại cho nhà cầm quyền. Nào là ngực to ngực khủng, thằng bé này tí tuổi mà hợm hĩnh, con bé kia dám viết sách bịa đặt, anh ca sĩ nọ diễn trò trên sân khấu. Người dân bị dắt mũi bởi truyền thông, cũng cứ thế là đâm đầu vào bới móc, mổ xẻ, hăng hái tranh đấu vì ý kiến của mình, trong khi những tin tức thật sự cần tranh luận, phản biện, thì hoàn toàn vắng bóng.

Sự bưng bít thông tin này, mà thường là những thông tin đa chiều, dẫn đến việc người dân không có khả năng và thói quen nghĩ ngược lại với những gì mình được dạy, hay còn gọi là tư duy phản biện. Chính vì không thể nghĩ ngược, nên khi gặp cái gì không quen, họ không nghĩ, ngại nghĩ, sợ nghĩ, vì thế lảng tránh để khỏi phải nghĩ. Sự vô cảm là thói quen, vì từ bé đã không được dạy cách lên tiếng, cách thể hiện suy nghĩ cá nhân, và cũng là kết quả của sự bất lực, vì không biết làm thế nào để suy nghĩ độc lập. Vì các thông tin đều phập phù như thế, biết hay không biết cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tình hình xã hội, hôm nay có thằng bé to mồm này để dân tình chửi bới thì mai phải có con bé ngu xuẩn khác để bà con lên án cho xôm.

Mình rất thích TED, nhưng khi TED về đến Việt Nam, tất nhiên không dám vơ đũa cả nắm, nhưng qua những video youtube mình xem các bạn quay lại các sự kiện đã tổ chức, thì mình khá thất vọng. TEDx ở Việt Nam không khác gì những sự kiện diễn thuyết các bạn trẻ tổ chức, mời một số người nổi tiếng nói những bài dài lê thê, không có trọng tâm, thậm chí nhạt nhẽo. Mình cứ tự hỏi nếu những người, tạm coi là có tầm ảnh hưởng đến công chúng, được quyền nói những thông tin có thể làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước, mà không bị kiểm duyệt, được bàn luận về những cái xấu và cái tốt của bộ máy cầm quyền một cách tự do, được đưa ra chính kiến của họ mà không bị bỏ tù, thì liệu các bạn trẻ đang lắng nghe hau háu kia có học được cách suy nghĩ độc lập và nhìn sự việc từ nhiều phía, để từ đó bớt vô cảm hơn được không?

Cuối cùng, nguyên nhân gốc rễ của cả hai nguyên nhân trên, mình nghĩ là do thể chế chính trị. Nếu có sự đối thoại trong nhà nước, thì cũng sẽ có sự đối thoại trong nhân dân. Nếu người dân cảm thấy rằng họ có quyền chất vấn, và thật sự có khả năng xoay chuyển tình thế, họ sẽ quan tâm nhiều hơn. Những nước phương Tây người dân của họ phê phán chính phủ rất nhiều, họ sẵn sàng phản đối khi có điều gì không vừa lòng, tại sao nước họ vẫn mạnh, vẫn giàu? Còn ở nước mình, quyền phê phán của người dân chỉ gói gọn trong mấy bộ ngực và mấy nhân vật vô thưởng vô phạt, mỗi lần túm được vụ việc nào là báo chí không chịu để nguôi ít nhất vài tuần vì có thứ để giật tit, câu view; thì nước vẫn yếu, vẫn nghèo?

Mình không tin có cái gọi là "tính cách cố hữu" của người Việt Nam. Mọi thứ là do thể chế và cách tổ chức xã hội mà ra. Như Hàn Quốc và Triều Tiên, cùng một dân tộc, tiếng nói, văn hóa, tại sao một nước giàu có thịnh vượng, một nước nghèo dân đói đến mức phải ăn thịt người? Những sự bất lực, thờ ơ, vô tâm, đều có căn nguyên sâu xa của nó. Bạn mình bảo cứ về Việt Nam là thấy không khí ngột ngạt và bi quan, thấy người ta không chịu hành động, chỉ ngồi một chỗ than thở và nêu ra các lý do mình không thể làm được cái mình muốn. Ở một xã hội không khuyến khích sự khác biệt và tính phản kháng, mọi người khuyên nhau "lo cho cái thân mình yên ấm đã" hoặc tự nhủ "có cố cũng chẳng khác được gì, con vua rồi lại làm vua.". Chẳng phải chính Marx, người mà đi vào phòng họp của các UBND đều thấy đang ngồi sừng sững trên bệ, đã viết là "không có mâu thuẫn thì không có phát triển" sao?

Mâu thuẫn bị bóp chết, thành ra cái gì cũng xam xám, nhờ nhờ, trôi đi vô nghĩa, kể cả những người đang sống trong xã hội này.

Freelance, nên hay không?

Wednesday, 11 September 2013 Posted by Rain

Mỗi khi có người hỏi tôi một câu hỏi đơn giản "Dạo này đang làm gì?" tôi đều phải suy nghĩ để lựa chọn câu trả lời của mình tùy vào mối quan hệ của tôi với người ấy, mức độ quan tâm của họ,  cũng như độ hiểu biết về những thứ tôi đang làm. Với các ông bà trẻ ở quê, tôi đơn giản trả lời là "cháu làm phiên dịch". Với các bạn cùng tuổi ở thành phố, tôi bảo "tớ làm cho một số các dự án nghiên cứu". Còn với những người có biết về nghiên cứu hoặc các vấn đề xã hội thì tôi nói là "dạo này đang làm cho một dự án về các tổ chức NGO, với cả một dự án khác về công tác xã hội.". Đại loại là phải cân nhắc trước khi trả lời.

Thường thì tôi biết những người nghe câu trả lời ấy, nhất là nhóm giữa, vốn là số đông, hay có cảm giác không hài lòng. Quái nhỉ, sao không phải là ngân hàng, kế toán, công ty nước ngoài, giáo viên, hay là một ngành nghề nào đó cụ thể và dễ tưởng tượng. "Một số dự án" tức là thế nào. Trong đầu họ hiện lên ngay hình ảnh một đứa trẻ ranh chóng chán, thiếu trách nhiệm, và hành động theo ý thích, chưa kể lông bông và sống cuộc sống phập phù do di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Ngay cả gia đình tôi cũng có một thời gian dài lo lắng về việc không biết con mình hiện đang đi làm cho ai, đi làm ở đâu, giờ giấc thất thường, có lúc thì đi bạt mạng, có lúc ngồi ở nhà cả tháng. Và trong suy nghĩ của người lớn, và rất nhiều bạn cùng lứa với tôi, không ra khỏi nhà tức là thất nghiệp, tức là không có tiền, và kém cỏi.



Có một chị hơn tôi hai tuổi đang làm cho một doanh nghiệp nhà nước, khi nghe tôi nói là "em đang làm cho một số dự án", đã thốt lên rằng "Em làm sao như thế mãi được, rồi cũng phải ổn định đi chứ". Cuộc hội thoại diễn ra thế này:

- Em đi làm ở đâu chưa?
- Em làm rồi chị ạ, em làm nhiều chỗ khác nhau.
- Thế là thế nào?

- Tức là em làm cho các dự án ngắn hạn, khi hết một dự án em lại chuyển sang dự án khác
- Em làm sao như thế mãi được, cũng phải ổn định đi chứ
- Tại sao lại phải ổn định ạ?
- Như chị hầu như buổi tối không có việc phát sinh, chị về nhà với gia đình thôi
- Nhưng mà chị vẫn phải ra khỏi nhà từ 7h sáng đến 6h tối mà, thật ra chị đâu có nhiều thời gian lắm.
- Ừ, nhưng làm ở các công ty tư nhân em còn phải mang việc về nhà làm buổi tối nữa. Rồi sau này còn con    cái..
- Không, em không định mang việc làm buổi tối. Mục tiêu của em là chỉ làm một nửa ngày thôi.


Câu chuyện dừng lại ở đây, chị ấy có vẻ rất băn khoăn, có vẻ không hiểu được tại sao tôi lại từ chối một lựa chọn rất phù hợp với phụ nữ, là làm ở một nơi cố định, những công việc giống nhau, và không phải lo nghĩ quá nhiều.



Nhưng đấy cũng là điều tôi sợ nhất, ít nhất là trong thời điểm này.Một số lầm tưởng phổ biến nhất khi moi người nghe đến từ "làm tự do" là đánh đồng nó với "nhảy việc" và "ít tiền". Cả hai mặc định này đều sai. Thứ nhất, freelance không có nghĩa là nhảy việc. Nhảy việc là khi bạn đang làm toàn thời gian ở một chỗ, và nghỉ để chuyển sang một nơi toàn thời gian khác. Còn freelance có nghĩa là bạn chủ động không gắn kết với nơi nào cả, làm theo hợp đồng, theo sản phẩm, có thể hợp tác với một tổ chức lâu dài nhưng bạn không phải là nhân viên của họ. Trong khi nhảy việc thường là kết quả bị động của việc bất mãn với môi trường, không hài lòng với mức lương, tóm lại là một hậu quả kéo theo, thì việc làm tự do là một sự lựa chọn chủ động ngay từ đầu. Khi hết một dự án thì lại tiếp tục dự án khác, hoặc hợp tác với nhiều tổ chức cùng một lúc.

Mặc định thứ hai là ít tiền, cũng liên quan đến mặc định đầu tiên từ lối suy nghĩ tính công theo thời gian gắn bó, kiểu "sống lâu lên lão". Một người liên tục chuyển từ nơi này sang nơi khác sẽ gặp rất nhiều bất lợi nếu họ được trả lương theo số năm làm tại công ty, vì thường khi chuyển sang công việc mới họ phải bắt đầu lại từ đầu, lại leo thang từ những bậc đầu tiên. Hơn nữa, nhảy việc mang lại một số bất an nhất định, như những thời kì chuyển tiếp không có việc, không có lương, mà trong mắt của nhiều người chính là "không ổn định". Tuy nhiên, những người làm freelance có thể vượt qua trở ngại này vì họ được trả lương theo sản phẩm chứ không phải thời gian, và được đánh giá trên năng lực của mình. Tất nhiên không phải lúc nào cũng được điều kiện lý tưởng như thế, nhưng nói chung vì yếu tố này mà thu nhập của những người làm freelance đã có kinh nghiệm dày dặn và xây dựng được mạng lưới tốt không thua kém, có khi còn hơn những người chỉ làm một chỗ. 

Tuy nhiên, làm tự do không phải không có những thách thức riêng của nó. Thứ nhất là phải vượt qua những định kiến xã hội, ví dụ như tìm được câu trả lời thích hợp cho những đối tượng khác nhau với cùng câu hỏi về nghề nghiệp của mình. Có rất nhiều người vẫn đánh giá và kì thị freelancer, nhất là các freelancer trẻ là lông bông, không biết nghĩ về lâu dài, và chỉ biết làm theo ý thích cá nhân. Thứ hai là phải xoay xở để luôn tìm ra đầu việc mới, để không khi nào bị trống và luôn có các dự án gối lên nhau và có dòng thu nhập liên tục. Thứ ba là những phúc lợi xã hội mà người đi làm cố định được hưởng như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách thuế mà mình không được hưởng. Thứ tư việc tự kỉ luật bản thân để làm việc có hiệu quả cũng như cân bằng cuộc sống.

Các thách thức này, tất nhiên đều có cách khắc phục. Với định kiến của xã hội, tôi không kì vọng rằng mình có thể thay đổi suy nghĩ của tất cả mọi người, thế nên mới nghĩ ra cách thỏa hiệp bằng các câu trả lời khác nhau. Tất nhiên không thể tránh được cái nhìn xét nét và ngờ vực của người mới gặp, hoặc ít gặp. Tôi chỉ có thể dần dần làm cho người thân và bạn bè gần gũi nhất hiểu được và an tâm về công việc của mình. Ít ra đến bây giờ, gia đình tôi đã quen và tôn trọng việc tôi làm việc tại nhà, và hiểu rằng tôi thật sự có thể kiếm tiền được từ việc "ngồi ru rú trong phòng dính mắt vào cái máy tính". 

Với khó khăn thứ hai, đấy cũng là một điều không thể tránh khỏi. Tôi biết rằng không phải ngành nghề nào cũng có thể làm tự do, có những việc buộc người ta phải gắn bó với một tổ chức, nhưng nếu bạn là kế toán, bạn cũng có thể dạy thêm tiếng Anh, hoặc bạn là giáo viên tiếng Anh cũng có thể mở shop online bán hàng tại nhà. Định nghĩa "làm tự do" của tôi bao gồm cả việc luôn tìm kiếm các cơ hội và sẵn sàng làm bất cứ cái gì miễn là ra tiền. Vì thế để luôn có việc, thì điều kiện đầu tiên là phải cởi mở và chấp nhận làm việc vất vả. Một người làm tự do không có nghĩa là làm ít, hay lười biếng, họ có thể làm gấp đôi gấp ba những người làm công việc cố định, vì một lúc họ phải xử lý vài ba dự án chồng chéo lên nhau. 

Yếu tố thứ hai để luôn có việc là phải mang lại chất lượng tốt nhất cho từng dự án, từng khách hàng. Nếu như một người làm cố định chỉ cần làm xong, làm đúng hạn, làm đúng theo yêu cầu, thì người freelance phải làm tốt hơn, làm vượt mong muốn của khách, trong khi làm luôn nghĩ đến việc họ có quay trở lại với một dự án khác không, và luôn cố gắng để chất lượng công việc tốt nhất có thể. Một yếu tố nữa từ kinh nghiệm bản thân của tôi, là để có công việc làm liên tục, đó là mạng lưới bạn bè, người quen, vì đây chính là nơi những người muốn tìm freelance thường dựa vào, chứ không phải các kênh tuyển dụng truyền thống như công việc cố định truyền thống. Việc được một người bạn mình tin tưởng giới thiệu cho một việc họ biết, hay nhận tin tuyển dụng từ mailing list mọi người forward các cơ hội cho nhau chiếm phần lớn những công việc tôi đã làm, nhiều hơn là việc tôi tự tìm được trên mạng. Ngay khi đang làm dở dự án này, tôi đã phải bắt đầu viết thư để tìm kiếm các dự án mới. Nói chung với những người không muốn suy nghĩ nhiều thì họ sẽ ngại, nhưng tôi luôn thấy hào hứng mỗi khi có việc mới đến, và thậm chí cái cảm giác "có nhiều việc quá" còn khiến tôi có một sự phấn khích kì lạ (tất nhiên là ban đầu, lúc sau có thể oán thán bản thân vì cái tội đã lỡ nhận quá nhiều việc, nhưng lần sau lại y như vậy).

Khó khăn thứ ba là về bảo hiểm, tất nhiên đấy là một thiệt thòi lớn về mặt chính sách cho những người chọn cách làm tự do. Tôi đang khắc phục bằng cách tìm hiểu các gói bảo hiểm mình tự chi trả mà không phụ thuộc vào quỹ bảo hiểm của nhà nước, và đang chạy vạy để tìm cách hoàn thuế cho những khoản "thu nhập bất thường" mà đối với tôi là "thu nhập bình thường" nhưng vẫn bị đánh thuế rất nặng, gấp nhiều lần những người đi làm cố định khác. Việc hoàn thuế chưa có kết quả, nhưng tôi hi vọng sẽ sớm có tin vui.

Khó khăn cuối cùng về việc cân bằng cuộc sống. Có bạn đã hỏi tôi là, có bao giờ thấy chán khi cứ chuyển hết dự án này đến dự án khác mà không được gắn bó lâu dài với một công việc nào để nhìn nó phát triển và lớn lên dưới công sức của mình chưa. Tôi có cảm giác ấy. Ví dụ như mỗi lần làm trợ lý nghiên cứu, tôi chỉ làm khoảng vài tháng, nhiều nhất là gần một năm, rồi chấm dứt. Có nhiều lúc tôi cảm thấy mình chỉ như một công cụ trong một bộ máy, và muốn mình được tham gia từ đầu đến cuối thay vì chỉ làm từng phần nhỏ. Cũng có những lúc tôi muốn quay trở lại một cộng đồng tôi đã lăn lê ở đó suốt nửa năm, nhưng không biết mình nên quay lại với tư cách nào. Nhưng tôi bù đắp cho cảm giác hẫng hụt đó bằng cách tham gia và gắn bó lâu dài với những việc không phải để kiếm tiền, ví dụ như trang Kể Chuyện, hoặc các hoạt động tình nguyện. Việc phân tách rạch ròi làm vì sở thích và làm vì tiền giúp tôi đỡ dằn vặt hơn. Tôi gắn bó với những việc mình làm vì thích, nhưng không (hoặc chưa) ra tiền, và thoải mái với những việc tôi làm ra tiền. Như thế tốt hơn nhiều việc kì vọng vào một công việc vừa ra tiền vừa có ý nghĩa, lại vừa giúp tôi học hỏi được những điều mới, để rồi hết lần này đến lần khác thất vọng. Nghĩ được như thế, tôi thấy nhẹ nhõm hơn. 

Còn nhiều cân bằng khác, ví dụ như việc giao tiếp xã hội và việc ngồi một mình (những người làm tự do thường dễ bị rơi vào trường hợp sau). Việc học hỏi từ đồng nghiệp và trở thành một cái máy lặp đi lặp lại những quy trình giống hệt do không làm việc trong tập thể. Việc ăn chơi sa đà và làm việc hùng hục. Những cái đó đều có thể điều chỉnh được, vì làm tự do không có nghĩa là lúc nào cũng chỉ có một mình. Tôi vẫn làm việc trong nhóm, liên hệ với người giám sát, học hỏi từ những người làm cùng, từ những người thuê tôi, và duy trì những mối quan hệ đó. Tôi cũng có thời gian để tham gia những hoạt động bên ngoài, như đi hội thảo, đi nghe trình bày, đi gặp gỡ người này người khác, và tích lũy cũng như tìm kiếm cơ hội từ chính những dịp "xả hơi" đó. 

Việc làm tự do có rất nhiều ưu điểm. Thứ nhất, tôi được chủ động về thời gian. Điều này rất quan trọng, vì tôi rất ghét phải ngồi lì tám tiếng trong bốn bức tường với cùng từng đấy con người hết ngày này qua ngày khác. Tôi có thể làm việc vào tối, vào đêm, vào buổi trưa, và xen kẽ các dự án khác nhau cho đỡ chán. Ví dụ tôi làm việc giấy tờ buổi sáng, rồi buổi chiều ra ngoài phỏng vấn người bán rong, tối về lại ghi chép, như thế tôi làm việc được lâu hơn và hiệu quả hơn so với nếu cứ ngồi lì một chỗ hoặc đi ngoài đường cả ngày.  Thứ hai, tôi không phải dính với những người nhất định quá lâu. Thử tưởng tượng bạn ghét cay ghét đắng một ông sếp nào đó, và bạn sẽ phải cung cúc phục vụ ông đấy vài chục năm cuộc đời. Thay vì những bữa nhậu nhẹt, những bữa liên hoan, ăn uống với những người tôi không quý cũng chẳng ghét, nhưng chẳng có gì để nói, tôi có thể dành thời gian để gặp những người tôi thật sự muốn gặp. Và vì khi làm tự do, tôi chỉ có một thời gian cố định để hoàn thành công việc hoặc sản phẩm, nên tôi không phải nghĩ quá nhiều về việc lấy lòng người này nịnh bợ người nọ, hay cũng không đau đầu vì những vụ nói xấu, lùm xùm, khích bác đá đểu nhau xuất phát từ những người ngồi trong cùng một văn phòng quá lâu. 

Một điểm lợi nữa là tôi có xu hướng introvert rất cao, nghĩa là tôi không thể tập trung hay suy nghĩ khi có người khác xung quanh, nên việc được ở một mình với tôi rất cần thiết. Cuối cùng việc làm cho nhiều người, nhiều nơi khiến cho thu nhập của tôi không bị phụ thuộc vào một nguồn. Điều này, khỏi phải nói, cũng vô cùng quan trọng. Tôi biết có nhiều người không dám rời bỏ công việc hiện tại của họ vì rời ra là sẽ hết tiền để trang trải cuộc sống. Rất may tôi không để cho mình rơi vào tình trạng đó. Thu nhập của tôi có lúc cao, có lúc thấp, nhưng nói chung không lúc nào cạn kiệt, cả kể khi tôi nghỉ nơi nào đó.

Hi vọng rằng những người đọc xong bài này sẽ có cái nhìn tích cực hơn về freelance và thôi bị ngăn cản bởi định kiến "phải có một công việc ổn định" . Đối với tôi, đây là một lựa chọn nghề nghiệp. Tôi đã từng đi làm cố định ở một vài nơi, và không thể phủ nhận những lợi ích mang lại. Nhưng ở thời điểm hiện tại, tôi lựa chọn việc làm tự do, vì nó phù hợp với khả năng, tính cách, cũng như những điều tôi mong muốn. Thật ra tôi chỉ làm cho nhiều người, nhiều nơi, chứ bản chất những việc tôi làm không khác nhau nhiều, đều là liên quan đến nghiên cứu hoặc ngôn ngữ. Tôi nghĩ rằng đây là một lựa chọn tốt cho nhiều người trẻ, vì chúng ta chưa phải chịu trách nhiệm với nhiều người (tức là chưa có con), và có thể linh hoạt về thời gian, sức khỏe và một mức độ rủi ro nhất định, những điều mà chục năm nữa có thể sẽ quá xa vời và chúng ta sẽ phải chấp nhận dính mông vào một cái ghế từ 8h sáng đến 5h chiều.

Người máy và những điều linh tinh khác

Monday, 2 September 2013 Posted by Rain

Mấy hôm trước mình đi xem kịch, một vở kịch rất ngắn chỉ có hai hồi do Trung tâm văn hóa Nhật Bản giới thiệu. Hồi một có một bà già và một cô người máy. Hai người đọc thơ cho nhau. Họ đã là bạn với nhau kể từ khi bà già còn là một bé gái, bố cô tặng cô một người máy khi biết cô không khỏi bệnh được. Trong kịch không nói rõ là bệnh gì nhưng có vẻ là bệnh khiến cô không ra ngoài được. Cuối màn một thì bà già qua đời. Màn hai là cuộc trò chuyện giữa cô người máy có vẻ đã sắp hỏng với anh thợ cơ khí. Sau vài cuộc điện thoại và kiểm tra, anh quyết định cô người máy từ nay sẽ đọc thơ ở nghĩa trang, nơi mà con người không đến được, và có thể là không muốn đến.

Sau đó là màn giới thiệu và giao lưu của tác giả và đạo diễn vở kịch. Ngoài những câu hỏi tiểu tiết như giọng lồng tiếng của ai, người máy có chức năng gì, mình cũng không nhớ có câu hỏi nào thật sự cắc cớ. Có mấy cụ già và đạo diễn kịch có vẻ nổi tiếng cũng hỏi những câu mình nghe xong đã biết bác đạo diễn người Nhật sẽ trả lời thế nào, và y như rằng bác trả lời thế thật. Mình có hỏi một câu, bác nghĩ đặc điểm nào của xã hội Nhật Bản khiến người Nhật ưu ái robot đặc biệt như vậy, có phải sự cô đơn không? Gần đây có triển lãm cô bé má hồng cũng của Nhật mà chú Bình nhận xét là không có gì nổi trội, nhưng lại rất nổi tiếng ở Nhật, làm mình nghĩ đến việc xã hội Nhật đang già cỗi và trở nên xa cách, nên người ta thèm những hình ảnh tươi tắn hồn nhiên của trẻ con. Tìm đến robot để làm bạn, cũng có thể do xuất phát từ chỗ không tìm được tình cảm từ con người. Mình hỏi thế nhưng bác đạo diễn lại trả lời vòng vo rằng người Nhật sống chan hòa với thiên nhiên, rồi ranh giới giữa khỉ với con người, hay giữa con người với người máy là rất nhạt nhòa. Chính vì không có ranh giới như vậy nên việc tiếp xúc và đón nhận người máy rất phổ biến ở Nhật. Mình không hài lòng với câu trả lời đấy lắm.

Nhưng có một suy nghĩ mà mình không nói ra, vì mình nghĩ không phù hợp với đa số khán giả ngồi xem trong rạp hôm đấy. Trong Kinh Thánh của Kito Giáo, Chúa tạo ra con người trong hình ảnh của mình, nhưng sau đó Adam và Eve đã không làm theo sự sắp đặt của Ngài, và mọi việc đã không đi theo tiên liệu của Chúa. Con người tạo ra người máy, cũng theo hình ảnh của mình (bác đạo diễn còn mời mọi người lên sân khấu sờ thử cô người máy trong kịch, và quảng cáo là vài năm sau da cô cũng nhão như da các chị nạ dòng), con người đang cố bắt chước vai trò của Chúa, lắp ráp một sinh vật mới. Nhưng rồi ai biết được sinh vật ấy có đi theo đúng tiên liệu và vai trò mà con người dành cho nó hay không, hay sẽ làm điều gì đó con người không thể ngờ được?

Ngày mai là năm học mới bắt đầu rồi. Email gửi về dồn dập nhắc nhở về các chương trình mình đã đăng kí. Trong khi dân tình nô nức đi học thì mình vẫn ngồi đây. Mấy hôm trước còn đau khổ vì chuẩn bị xa nhà, bây giờ không được đi cũng bứt rứt không kém.

Dạo này mình hay nghĩ về chuyện đặt câu hỏi, cách đặt câu hỏi. Khi đối diện với một người, mình phải tính toán để hỏi, để dẫn dắt, khơi mào sao cho họ kể ra, mà vẫn tự nhiên và thân mật. Nhiều khi cứ vừa hỏi vừa nghĩ xem mình có tọc mạch quá không, hay mình có hời hợt quá không. Vì hỏi dồn quá người ta có thể thấy khó chịu, mà hỏi nhẹ nhàng quá thì có thể lại bỏ lỡ mạch cảm xúc hay suy nghĩ của người ta. Nhiều khi thấy những câu chuyện như dòng cống có nhiều nắp ở phía trên, nếu câu hỏi tốt ngoắc vào một cái nắp mà bậy lên thì chảy ra ào ạt, nhưng nếu câu hỏi không đúng lúc, hoặc không đủ khỏe để nhấc nắp lên, thì biết là dòng ở dưới, nghe róc rách đấy, nhưng không tiếp cận được, vô cùng khó chịu. Còn câu hỏi mà xoáy quá, chưa đúng nắp, thì người ta phòng thủ không cho mình móc nữa, cũng chịu chết.

Hôm nay gặp thằng bạn chơi với nhau hơn mười năm nhưng mỗi năm chỉ gặp gỡ và nói chuyện may ra được hai ba lần, có khi một lần. Thấy nó loay hoay với cuộc sống của nó, học cách cười xởi lởi để cho hòa đồng nhiều người quý, rồi lại học cách không cười để suy nghĩ và thể hiện đúng cảm xúc của mình, rồi bận tâm đến những thứ kiểu như làm thế nào để hiểu người đối diện đang nghĩ gì, những thứ mà mình đã dừng nghĩ đến từ lâu lắm rồi. Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt may mắn, hoặc là rất an phận, bạn bè của mình ai cũng loay hoay. Mình thì dạo gần đây đã có vẻ yên ổn hơn một chút, bớt khủng hoảng đi, nhưng hầu như gặp bạn bè lúc nào cũng thấy tương lai và cả hiện tại cứ mù mờ. Còn mình thì cũng không có nhu cầu gặp nhiều người lắm, để đỡ phải trình bày bây giờ đang làm gì, và bị hỏi "tại sao lại không muốn ổn định?" (tức là tại sao lại không muốn làm ở một cơ quan nhất định sáng đi chiều về cuối tháng lĩnh lương).

Cái lợi của việc làm freelance là không phải khư khư đồng hồ báo thức, có thể dậy khi nào ngủ đã mắt. Cái lợi nữa là không phải bận tâm về những chuyện nói xấu, mâu thuẫn, rồi đối nhân xử thế ở những cơ quan, văn phòng. Mình không phải ngồi ở những buổi nhậu ở quán bia hơi buổi trưa với những người mình chẳng có gì để nói, cũng chẳng thấy có gì vui. Cái hại cũng có nhiều. Ví dụ như độp một cái bị hỏi là làm nghề gì, hay công việc thế nào, cũng phải nghĩ một lúc mới trả lời được, thường là tùy người hỏi mà câu trả lời sẽ khác đi.

Con tàu hôn nhân

Sunday, 25 August 2013 Posted by Rain

Sắp đến mùa cưới, cứ mỗi ngày mở facebook lên là thấy một đến hai bạn thông báo cưới, đi chọn váy cưới, chụp ảnh cưới, hoặc được tag vào những thư mời đám cưới tràn lan. Ngoài cưới thì còn có bầu, ảnh chụp bụng bầu, tin nhắn hỏi thăm bà bầu, ảnh, video, note và status cập nhật em bé biết làm trò này trò kia. Không ngày nào là mình không được nhắc nhở về việc bạn bè của mình đang nô nức chuyển sang một giai đoạn khác của cuộc đời. Lần nào mình cũng cảm thấy như họ đang ùn ùn kéo nhau lên một toa tàu chạy băng băng về phía trước, chạy đến đâu thì mình không biết, nhưng mình cứ đứng nhìn họ xô đẩy nhau hí hửng lên tàu nhưng không đi theo, mà tụt lại đằng sau ở sân ga, khi mà con tàu đã nhanh chóng chuyển bánh và sẽ không quay trở lại nữa. Ai nhanh chân thì nhảy lên, con tàu đang lao rất nhanh trên đường ray sẽ dừng lại chóng vánh, đủ để những ai muốn đi thì hấp tấp leo lên, rồi lao về phía trước, và chỉ chạy một chiều thôi, không có vé khứ hồi.

Nhiều khi mình cứ tự hỏi, những người mà đang ào ạt cưới xin, rồi sinh con đó, họ có suy nghĩ thật kĩ về việc mình đang đi đâu không, về việc họ sẽ không thể quay trở lại như cũ, và quyết định đó sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều người, chứ không riêng gì bản thân họ. Mình thì vẫn tự thấy mình là một đứa vắt mũi chưa sạch, thế mà bao nhiêu người bằng tuổi mình đã làm mẹ trẻ con rồi. Nhiều người bảo "cờ đến tay ai người đấy phất", tức là có chuẩn bị bao nhiêu cũng không đủ, cứ đến lúc sự việc xảy ra thì sẽ tự nhiên làm được. Có người còn bảo "hôn nhân như xổ số", tức là có hẹn hò tìm hiểu bao lâu cũng không đủ, phải đến lúc cưới mới biết được con người thật của nhau, lúc đấy thì xấu hay tốt cũng phải chấp nhận, nên là như xổ số, dù yêu mười năm hay một tháng rồi cưới cũng không khác gì.

Mình không bị thuyết phục lắm bởi cả hai luận điểm đấy. Mình cũng không đồng ý với việc cứ đến một độ tuổi nhất định là người ta phải làm một việc nhất định, kiểu như "hai lăm rồi lấy chồng đi còn gì nữa", bởi vì ai cũng thế nên mình phải thế. Và tất nhiên mình cực lực phản đối việc có con khi chưa sẵn sàng cả về tinh thần, độ chín chắn, sự hiểu biết và quan trọng vô cùng là tài chính. Mình luôn nghĩ về con cái như một life-long project, sẽ cần rất nhiều đầu tư, không thể cứ đẻ ra một cái là xong, thế là có một người góp mặt hít oxy nhả cacbonic trên đời.

Thế nhưng vẫn không thể tránh khỏi cảm giác khó hiểu, ngày xưa mình đi học, chúng bạn cũng đi học, mình ra trường, các bạn cũng ra trường, thế mà tại sao bây giờ các bạn đã rất sẵn sàng và hăm hở để nhảy lên tàu lao về một chỗ mình không biết, mà mình thì vẫn chẳng mảy may có mong muốn lên tàu cùng các bạn?

Nói nhảm trước khi lượn

Sunday, 18 August 2013 Posted by Rain

Khi làm một điều gì đó vì không biết hậu quả sẽ thế nào là liều lĩnh, còn khi đã biết hậu quả, và biết rằng mình không thích hậu quả đó nhưng vẫn làm, thì là dũng cảm.

Mình không thích đóng gói đồ đạc cho những chuyến đi xa, đi gần thì không nói làm gì, chỉ cần những thứ tối thiểu đủ dùng, nhưng khi rời xa một nơi chốn trong một thời gian dài, dù là về hay đi, thì cũng không dễ dàng gì để mang theo tất cả những thứ mình muốn. Vật lộn để nhét đống quần áo lôi từ các tủ ra vào hai cái va li, kéo lên cái cân lò xo cũ đã thấy chưa hết chỗ quần áo đã quá cân rồi, nữa là còn giày dép, túi xách, và bao nhiêu loại đồ dùng khác. Cứ phải đặt lên đặt xuống, lôi ra lôi vào, cân đo đong đếm xem cái nào nên mang theo, cái nào không, thật là tốn thời gian và hành hạ cảm xúc; bởi vì việc đấy đồng nghĩa với gán một giá trị cho từng vật, vì rõ ràng cái nào cần thiết hơn, gắn bó hơn sẽ được mang đi, cái nào ít cần, đã cũ, sẽ không dùng đến thì bị bỏ lại. Mình không thích đo đếm. Mà đồ đạc đã thế, còn bao nhiêu kỉ niệm, thương yêu, kí ức, làm sao ôm trọn để quẩy túi kéo đi theo mình trong cuộc hành trình nửa vòng trái đất được?

Mỗi lần dọn phòng và phải vứt bớt đồ đi, hoặc lôi những đồ cũ ra xem, mình lại thấy bồi hồi. Bản chất hoài niệm thích ôm khư khư quá khứ, cộng với đức tính tốt gia truyền là vô cùng tiết kiệm, lại được bổ sung thêm các kiến thức hiện đại về việc tái chế và vấn đề rác thải với môi trường, mình rất ít khi vứt đồ đi (đến giấy đã viết một mặt mình giữ lại làm nháp, thói quen từ lúc mới đi học, đến giờ cũng tích được cả chục cân). Thế nên mỗi khi gói ghém và buộc phải định giá trị cho những đồ vật gắn bó với mình, bao giờ mình cũng buồn.

Lần này mình cũng buồn. Buồn hơn nữa vì lần này mình đã biết điều gì đang chờ đợi phía trước. Khi sắp mất cái gì thì người ta luôn thấy nó đẹp. Tất lẽ dĩ ngẫu mình ngồi ăn cơm cũng đau đáu việc chẳng mấy chốc nữa đói rã họng lết xác về nơi trọ cũng sẽ phải lọc cọc ăn mì gói, chứ không có cơm dẻo canh ngọt dọn sẵn trên bàn, rồi mẹ sẽ hâm nóng lại thức ăn giúp trong khi mình chỉ việc ngồi chén tì tì. Mình đi ngoài đường cũng thầm tiếc nuối những hàng sinh tố, chè cháo nhan nhản vỉa hè, nơi mình có thể sà vào bất cứ lúc nào để kiếm cái ăn và nhìn những người khác đang vô tư sung sướng với miếng ngon của họ, mà cám cảnh cho một ngày không xa mình sẽ phải vào những siêu thị máy lạnh ro ro với hàng hóa ngồn ngộn và vô hồn để mua hoa quả lạnh ngắt và heo héo nếu muốn làm một cốc sinh tố mà mình sẽ ngồi một mình ở một xó nào đó để gặm nhấm. Ngay cả một cái vuốt tóc khe khẽ của người yêu cũng đủ làm mình trào nước mắt, nghĩ đến những lúc sẽ chỉ có thể sờ vào cái màn hình lạnh băng mà tưởng tượng ra hơi ấm của một con người. Và cứ thế, cứ thế..

Ra đi lần này, mình thật không biết tại sao. Ngày xưa thì rõ là muốn khám phá bản thân, muốn xem giới hạn của mình ở chỗ nào. Lần này, không biết bao nhiêu lần mình tự hỏi tại sao mình lại rời bỏ khi mọi thứ đều đang chạy ro ro ngon lành thế này. Mình muốn làm freelance để tự do như cánh chim trời, thì bây giờ là lúc mình đã đứng hơi vững, đủ để có việc làm nối tiếp đều đặn, nhiều khi thậm chí còn hơi ngợp với số lượng công việc bay về và phải tự dặn lòng học cách nói "không". Tình yêu rất ổn, bạn bè đều có mối quan tâm riêng, nhưng đủ để dăm bữa nửa tháng gặp nhau cười nói hỉ hả. Gia đình mình thì chưa bao giờ hết êm ả và mẫu mực, và hầu như lần nào nói chuyện với thằng em trai mình cũng cười rúc rích. Nên là mình cũng tiếc. Tiếc những offer phải từ chối vì "lúc đó tôi không còn ở Việt Nam nữa". Tiếc cuộc sống đang vừa bắt đầu có vẻ đi vào guồng quay nhịp nhàng theo đúng ý mình muốn. Tiếc những ngày rất thoải mái này, khi mình được mọi người khen và yêu quý. Nhưng lại nghĩ đến "when you have to choose between what is right and what is easy"..Mình đang dần đi vào quỹ đạo của "easy". Sau khoảng thời gian đầu vật lộn để tìm kiếm, kết nối, thích nghi lại, học hỏi cách làm việc, xác định nhu cầu của bản thân, mình đã uốn nắn những thứ xung quanh mình theo cách mình muốn, tất nhiên cũng nhờ vào sự thuận lợi của những mối quan hệ mình có từ bạn bè và gia đình, cái đó không thể phủ nhận được. Nhưng bây giờ nếu cứ thế này thì mình sẽ rất nhàn hạ, đường đã vạch ra, cứ thế mà đi.

Thỉnh thoảng vừa uốn éo tránh người tránh xe mình vừa tự hỏi không biết mùa hè này mình đã làm gì, hoặc khi có một ý nghĩ dẫn đến sự kiện nào đó, mình không thể nhớ ra nổi việc đấy xảy ra vào mùa hè năm nay hay mùa hè năm ngoái.  Hai mùa hè bận rộn của những công việc freelance được nối bằng một công việc full time chán ngắt mình chẳng có ấn tượng gì trừ chuyến đi Nghệ An hai tuần, nên khoảng thời gian từ tháng 10 đến hết tháng 4 trong đầu mình gần như một khoảng trắng, nếu cố moi ra chỉ là những ngày đến căn phòng ẩm thấp bên trong bảo tàng, ngồi trước cái máy tính, làm việc riêng của mình và chẳng thích thú gì với những office drama xảy ra như cơm bữa. Nhưng hai mùa hè mình làm quá nhiều thứ, hết dự án nghiên cứu này đến dự án nghiên cứu kia chồng chéo lên nhau, đến nỗi mọi thứ cứ nhòe mờ vào nhau hết cả. Tất nhiên là mình thích sự bận rộn hơn.

Nhiều người hỏi mình có định ở lại không, có định học tiếp tiến sĩ không. Mình chẳng có câu trả lời nào cho họ, vì bản thân mình không có kế hoạch gì cả. Có nhều chuyện không phải cứ ngồi nghĩ là ra. Với cả, ngay lúc này, hoặc đúng ra là từ trước đến nay, mình cũng chẳng biết mục đích của việc đi học tiếp là gì, tại sao phải đi học. Đành rằng mình thích học thật, nhưng chưa bao giờ hết nghi ngờ rằng thật ra mình nộp đơn xin đi học chẳng qua vì đấy là thứ "mọi người đều thấy nên làm". Sẽ được ngưỡng mộ, được khen, được công nhận, túm lại là một thứ áp lực xã hội về con đường "đúng đắn". Cứ ở vị trí đấy, làm việc đấy, thì phải tiếp tục như thế đấy. Cũng có thể vì mình nghĩ đến chuyện đi học như giải pháp tình thế trốn tránh cuộc sống bế tắc của đời đi làm mà trong những lúc suy nghĩ rối rắm, mình không thấy lối thoát nào cả, chính vì thế nên khi đã giải quyết được bế tắc đấy, như ngay lúc này, mình cảm thấy việc đi học không phải là một lựa chọn quá hấp dẫn nữa.

Thế nên mình không dũng cảm, dù mình đang chuẩn bị làm một điều mà sẽ mang lại rất nhiều thứ mình không thích. Không những thế mình còn hèn kém nữa, vì mình đã để cho áp lực xã hội điều khiển. Chưa hết, mình cũng nghĩ ngắn, bởi vì đáng lẽ ra mình nên hiểu rằng (mặc dù biết, nhưng từ biết đến ngấm vào đầu là khoảng cách xa) bế tắc trong công việc là điều không thể tránh khỏi, và ai cũng cần cả thời gian, nỗ lực và giúp đỡ từ bên ngoài để vượt qua bế tắc đấy. Trong trường hợp của mình là cần thời gian để xây dựng network, nỗ lực để làm người ta biết đến mình, và giúp đỡ từ bạn bè và người thân để giới thiệu cho những mối ngon mà trục vớt. Thay vì tin vào nguyên lý đó và cắm đầu lao đi, mình đã lăn tăn và vội vã rẽ sang hướng khác để trốn tránh sự bế tắc ở trước mặt.

Hoặc có thể nói tất cả là tại duyên. Thế là đỡ phải nghĩ nhiều.

Không khí

Monday, 15 July 2013 Posted by Rain

Hôm nay lúc ngồi trong một văn phòng ở tầng 14, đánh mắt trộm ra ngoài cửa sổ, đầu óc lơ mơ bên tai vang vang những câu trả lời của chị giám đốc đang được phỏng vấn, tự dưng nhớ ra ấn tượng đầu tiên của mình khi đặt chân lên Canada. Trước nay mình cứ nghĩ đấy là mùi đồ ăn nhanh xộc thẳng vào mũi trong sân bay, nhưng giờ mới nghĩ ra, đấy là bước thứ hai thôi. Bước đầu tiên là bầu không khí sạch tinh tươm và vô trùng, đến nỗi cảm thấy hơi loãng và trống rỗng.

Vì mình ở Hà Nội, nên không khí lúc nào cũng có mùi gì đó, và những mùi ấy không phải nói văn hoa, nhưng đúng là "hơi thở của cuộc sống". Chẳng khi nào mình không được nhắc nhở về không gian xung quanh. Mùi khói xe khét lẹt, mùi mỳ xào thơm phức, mùi nước hoa sực nức trong thang máy, mùi nhựa đường cháy hăng hăng giữa trưa, mùi hoa dâu da xoan man mát lúc sáng sớm, thậm chí là mùi "viêm cánh" ngào ngạt của một anh giai đang bám hai tay lên thanh ngang và đu đưa người theo nhịp lắc của xe buýt. Cuộc sống thở ra đủ thứ mùi như vậy, nên mình không thể nào xao nhãng nó.

Không khí ở Canada trong lành, hẳn rồi, nhưng nó không giống cái trong lành ở miền quê ở Việt Nam, khi vẫn có mùi thơm của lúa non, mùi phân trâu trên đường, mùi mít chín đang tỏa hương nhè nhẹ, ví dụ thế. Bây giờ nghĩ lại, mình thấy không khí Canada hơi giống trong bệnh viện, có thể đến từ vô vàn những hộp đựng nước rửa tay khô được lắp đặt ở mọi nơi mọi chỗ, từ việc người ta chạm khẽ vào nhau cũng rối rít xin lỗi, từ những chiếc xe ô tô không xả khói đen kịt. Mình đã từng cảm thấy không khí đó không chứa đựng sự sống, cho dù nó đẹp.

Có bạn bảo mình là từ hồi về nhà trông có sức sống hẳn lên, mặt mũi tươi tỉnh rạng rỡ. Những bức ảnh chụp ở Canada cũng cười toe toét, nhưng chắc cái việc cứ lầm lũi đi đi về về, chẳng yêu ai và cũng chẳng ai yêu mình, nó ngấm vào người, không thể giấu được. Thời kì 4 năm ở đó mình thật sự không có nhiều điều thú vị, không quen biết nhiều người thú vị, đã ù lì và chây lười đi rất nhiều. Nghĩ lại và nghĩ đến chuyện quay trở lại những tháng ngày như thế thấy rất sợ.

Sau cái cảm giác hả hê (hoặc thỏa mãn) vì cuối cùng mình cũng đạt được cái muốn đạt, lại là cái sự băn khoăn, lo lắng, và cảm giác sợ hãi điều mơ hồ chưa biết đến ở phía trước. Hình như mình chưa bao giờ hăm hở ra đi, cũng chưa bao giờ khát khao đến chỗ nào đến mức vui sướng khi được đến đó. Thế mà chẳng hiểu sao lại cứ ép mình phải đi. Bao nhiêu lần rồi, vẫn chưa khác gì cả.

Không phải vì mình quá thích cuộc sống của mình bây giờ, hay quá quyến luyến quê nhà. Chỉ là mình vốn chưa bao giờ dễ thay đổi hay dễ thich nghi với môi trường mới, nên nghĩ đến việc sẽ lại tốn bao nhiêu thời gian và năng lượng để làm quen và thấy gắn bó với một chỗ mới là lại thấy oải. Không những tạo đựng tình cảm mới đã khó, mà giữ gìn tình cảm cũ cũng khó. Mình chỉ sợ cái ngày mà không yêu người khác, nhưng gặp lại người yêu cũng thấy nhạt nhẽo và nguội lạnh, không biết như thế có buồn hơn không.

Chỉ còn hơn tháng nữa thôi. Lại bắt đầu thấy sợ rồi.

In the mood for love

Thursday, 11 July 2013 Posted by Rain



1. I love you when I was caught in a rain. I called and you arrived 1.5 hour later and drove me home. The ride that often takes 20 minutes took another 1.5 hour because of flood and traffic jam everywhere. You didn't complain a single word. I knew you would come again, and again, whenever I call, to bring me home.


2. I love you when you dropped me off in front of my house after an evening we spent together. As I turned around to ring the bell, I felt your eyes on me. I knew you didn't want to leave.

3. I love you when you played with my ankle chain as we sat and talked with your mother and sister in your grandmother's house.

4. I love you when we were next to each other and I was talking nonsense, suddenly you turned to me and said: "Your eyes are brown. They are so beautiful". That was enough to leave me speechless.

5. I love you when I was having a terrible headache because of the intense summer heat and work-related stress, you sent me a text message that said "Im thinking of you and I love you".

6. I love you when I got mad at you, you totally gave in and said "Yell at me however you want. Im listening".

7. I love you when you told me that you love my family and want to be a part of it.

8. I love you when you couldn't sleep well while I was away for 3 weeks, but you didn't say a word until I came home because you didn't want to make me worry.

9. I love you because you never stop me from pursuing what I like, because we both want to work from home and free ourselves from offices, because we share the same ideals of parenting methods, because you would be the kind of husband who doesn't mind sharing housework with his wife.

10. I love you because when I can't sleep at 1am after drinking 2 big cups of green tea, all I think about is You.

To ease my mind

Wednesday, 10 July 2013 Posted by Rain

Since I started Ke Chuyen, I haven't written in English. There are days like this, when I wake up with an absolute resolution that I will write something, only to end up not writing anything and couldn't sleep. Even though I have tried everything, jot down notes, write as thoughts come and go, read other people's writings, relax, do something , do exercise, talk to my mom, make and drink smoothie, in short, everything that is normally suggested to overcome writer's block. But still, I couldn't write.

I am wondering if it's because I haven't gathered enough raw materials, or because I am just stuck. No, the answer might be simpler than that. Not everything is story, there is also thoughts, ideas, discussions, things that happen in between and never go anywhere. My problem at the moment is, I have gathered many little stories, but they are not big enough to stand alone, and yet I don't know how to weave them together to make one big story. Stories are great, but you don't always run into a great one every other day.

So I figure that while I wait for a good story to come along, I just need to record my thoughts, as I have usually done, and hopefully a story will emerge sooner or later. I need to switch too. There are certain differences in writing English and writing in Vietnamese. Yesterday at a talk, a Vietnamese writer said her book was written in English, and translated back into Vietnamese, even though it is done by the same person, the gaps between the two languages sometimes make the Vietnamese version inadequate, i.e. her English text could convey everything she wants to say, but the Vietnamese translation couldn't. I am afraid I will have the same problem some day.

Since I started Ke Chuyen more than 2 months ago, I've noticed a change in how I perceive others, especially strangers. Usually in a crowd, I often shrink myself to the point where I believe I am not noticeable  (yeah, I know Im an introvert), but recently I've motivated myself with the thought that the other person might have something interesting to share. It's always been my philosophy that everyone has some stories in them, and all stories are valuable, but not until Ke Chuyen came into existence did I really practice this philosophy. One big push coming from the fact that I give myself the role of a collector, so I tend to become greedy and want to collect all stories that I run into on my course. Sometimes I am surrounded by so many little stories of different individuals that I feel like I am going to buzz if I don't let them out, yet I struggle to find them a form. One of my purposes for Ke Chuyen is to overcome my tendency to write a good piece when I write for the public. If I write for myself and a selected few, I can articulate my thoughts better, but when I write and want people to take it seriously, I am always under pressure to make it good. And because of this self-created pressure, I can't think, because I can't let the thoughts flow freely. I know it is bad, I am trying to relax.

It is also hard to find an angle to tell about someone's life, especially if that person is well-known and has been covered before. And other writers/journalists often work the stories so that they are extraordinary or dramatic, so they magnify certain points and bend the stories that way. I, on the other hand, want to keep my stories simple, real and sincere. I don't want to overemphasize things that catch attentions, and that makes it harder to write stories, because my brain, or any average reader brain, is wired to look for dramas.

This afternoon I started an experiment. I posted an ads looking for friends in a popular expats forum. I want to see when two people with little in common face each for the first time, what  they will say about themselves. How they construct their life stories and what angle they choose to present themselves as a person. This takes a lot of gut, because I am anything but eagerly meeting strangers. It will be so awkward, but for the sake of storytelling, and for the curiosity of the social researcher in me, I will brace myself. Few people have responded so far. I will see how things go.

Friends often tell me I have the talent of making them feel comfortable. This is definitely a compliment, and I need to take advantage of it to serve my storytelling career. On the other hand, this will prepare me for my next 2 years in Canada, when, again, I will find myself in the company of people I have nothing in common with, and must struggle to find a way to make myself comfortable and sustain a conversation for more than 10 minutes.

The combination of a socially awkward and a story collector presents many challenges, so it seems.

Yeah, I have written something, finally I can sleep.

Đã đến lúc bắt đầu

Saturday, 20 April 2013 Posted by Rain

Cuối cùng thì mình cũng thắng được sức ỳ và sự lười biếng cố hữu để bước đầu hình thành nên "Kể Chuyện" http://kechuyen.org/. Túm lấy một sở thích và mơ ước mơ hồ để lôi nó ra và đặt nó trước mặt là một cảm giác hơi hơi kì lạ. Một phần là từ bé đến giờ mình chẳng có sở thích gì mơ hồ như việc thích đi lê la nghe người khác kể về cuộc sống của họ. Và một phần là vì mình hình như chưa bao giờ tự tay bắt đầu cái gì mới. Trước đến nay chỉ tham gia vào những tổ chức có sẵn, hoặc làm những việc không có mình thì sẽ có đầy người khác làm.

Cũng chưa biết liệu có duy trì được tử tế không, nhưng cứ làm đã, vì nguệch ngoạc 10 cái có khi cũng được 1, còn không làm thì chắc chắn vẫn sẽ là 0.

Mình đã nghĩ về việc có thêm trang mới thì Somewhere I belong gắn bó bao lâu nay sẽ ra sao, và kết luận rằng mục đích của Kể Chuyện là những câu chuyện và những con người cụ thể, nên tất tần tật những cái khác, ví dụ như suy nghĩ vụn vặt, kể lể than thở, triết lý cao siêu, vẫn sẽ được gửi gắm vào blogspot. Một sự khác biệt cơ bản nữa là Kể Chuyện là nơi ghi chép công cộng, còn Somewhere I belong vẫn là chỗ kín đáo, nên chắc chắn những hậm hực không thể chia sẻ với số đông (như với những người cùng làm chẳng hạn), vẫn sẽ được trút ra ở nơi này.

Hi vọng những bạn đã từng đọc blog của mình sẽ ghé qua Kể Chuyện http://kechuyen.org/. Tạm thời mình bưng một số bài ưng ý từ bên này sang, và sẽ cố gắng viết bài mới đều hơn.

Suy nghĩ hình như cũng như nước cống, một thời gian dài không thông là bị tắc, và khi tắc thì mất khá nhiều công lực mới thông lại được :D

Tôi đi qua chốn này

Monday, 25 March 2013 Posted by Rain


Chuyến đi này là lần thứ hai tôi đến Đà Nẵng. Lần thứ nhất đi cùng gia đình còn quá nhỏ nên chẳng ấn tượng gì, mọi việc đều theo bố mẹ. Lần này tôi đi Đà Nẵng để tạm thoát khỏi vòng quay bức bách của cuộc sống sáng ngủ dậy lúc 7 rưỡi, tối lên giường lúc 11 giờ, trước khi nhắm mắt gạch đi những việc mình đã làm hôm nay và nhẩm tính những việc của ngày mai. Giữa hai hành động nhắm mắt mở mắt ấy là việc dán mắt vào màn hình máy tính, ăn, lái xe trên những con đường ám khói và mù bụi, rồi lại tiếp tục dán mắt vào màn hình máy tính.

Đà Nẵng không phải mùa du lịch nên vắng vẻ. Sáng thứ bẩy bên bờ sông Hàn, nắng vàng rộm chiếu xiên qua những kẽ lá, gió hây hẩy từ sông thổi lên, phố xá đủ xe cộ qua lại để không quá ngái ngủ, và đủ thưa người để khiến thời gian như chậm lại. Đà Nẵng không phải mùa hè nên mát mẻ. Đà Nẵng không phải mùa đông nên khô ráo. Đà Nẵng không phải là một thủ đô xô bồ như Hà Nội, nên từ bác gái phụ xe buýt, chị nhân viên ở hàng ăn, cho đến em bé bán kẹo cao su, ai cũng nhẹ nhàng và dễ chịu. Những ngày cuối tháng 3 ở Đà Nẵng, tôi bắt gặp một thành phố êm đềm. Tôi tạm trốn mình vào đó trong bốn ngày, quyết chí không nghĩ đến đống công việc dồn đống ở nhà, không nóng lòng chờ đợi những điều chính tôi cũng không chắc mình có tha thiết hay không, để lại cái tôi cam chịu sống bằng những kì vọng và mặc định của xã hội ở lại Hà Nội, tôi cho phép mình sống không vì ai cả trong bốn ngày.

Bánh tráng Trần ở Đà Nẵng quán rộng thênh thang. Nhân viên quán liên tục bưng rau, bưng bánh tráng ra trút lên đĩa ngay khi một thức gì đó vơi đi mà không cần đợi khách gọi. Đã lâu lắm rồi, hình như kể từ khi rời Canada, tôi chưa được phục vụ ân cần và chu đáo như thế. Miếng thịt thái mỏng tang, chuối xanh hơi chát, dứa góp vào chút chua, cộng với vị mát lịm đầu lưỡi của bạc hà, cái mùi hăng hăng của rau húng, dẻo ngọt từ gạo của sợi bún, và đặc trưng nhất là món mắm nêm, mỗi lần cắn là một lần thấy cả thiên nhiên trôi vào cuống họng.

Ăn no nên một bụng bánh tráng, chúng tôi đi dạo dọc bờ biển Mỹ Khê. Biển đêm được thắp sáng bởi những ngọn đèn đường, tạo ra những vùng sáng đan xen vào nhau quấn quýt. Bãi cát mịn và ấm, tôi đi chân trần và thầm biết ơn người dân Đà Nẵng về việc mình không phải sợ dẫm phải mảnh thủy tinh hay kim tiêm. Bàn chân tối ngày bị bó trong giày dép của tôi được tiếp xúc với cát ẩm, với những con sóng mơn man êm ái. Trong trạng thái lâng lâng là kết quả của cái dạ dày được thỏa mãn, của sóng biển rì rào bài ca bất tận, của gió biển mang đầy không khí trong lành, chúng tôi đã trút hết cả ruột gan ra thành ngôn ngữ. Chúng tôi đã nói chuyện với nhau hàng trăm lần trước đó, và có lẽ hàng vạn lần sau này, nhưng biển mênh mông dường như đã cởi bỏ những rào cản của vũ trụ đơn lẻ mà mỗi cá nhân vẫn bao bọc quanh mình. Lời như tan thành sóng, sóng như tan thành gió, tôi nói cho mình, cho người bạn của mình, và cho biển nghe những điều mà ở không gian nhỏ hẹp của thành phố và những bức tường, tôi đã luôn cố đè chúng xuống. Nhưng như những con ngựa bất kham, những mong mỏi và khao khát về một cuộc sống không bị bó buộc đã dứt tung dây cương tự kiểm soát của tôi, và đêm đó đã ào ạt ùa ra rồi tan vào gió biển.

Rừng dừa nước Cẩm Thanh ở Hội An không khác nhiều với những con kênh rạch tôi đã từng đến ở Nam Bộ. Nhưng tôi thích người phụ nữ đã đồng ý chèo thuyền đưa chúng tôi đi một vòng hôm đó. Không phải khách tour nên lộ trình của cô không cần theo đường vạch sẵn, những câu chuyện cũng không cần theo kịch bản sẵn. Cô có hai thằng con trai nè, giờ tụi nó chạy ghe đi bán dừa, không đứa nào đi biển nữa, vì cực quá mà con. Chú đi biển, đi tàu của họ đó, chớ mình sao có tiền mà đóng tàu, trăm triệu chứ chơi. Ừ, cứ đi cả tuần, rồi mới về. Dừa này là trước họ trồng, giờ của nhà ai người đấy đốn, làm nghề dừa này cũng cực, cứ phơi, ngâm, rồi lại phơi, năm sáu tháng mới bán được. Bán đâu hả, bán cho mấy quán ngoài biển đó, họ lợp mái. Từ khi có du lịch vào là dân bán được dừa. Nhiều khi còn không đủ mà bán nữa, nhưng mới 4-5 năm trở lại đây thôi. Nhiều câu tôi không nghe ra, cô vui vẻ giải thích lại. Ghe đi vào những khóm dừa nước um tùm, mát rượi. Chúng tôi gặp những người đàn ông đang ngâm thân dừa, phơi lá dừa, họ còn bắt những con ngao nhỏ dán vào thân dừa để sau này ăn dần. Giọng nói rổn rảng của cô trải dài trên sông, những tán lá dừa  giữa trưa lười nhác rủ bóng ôm trọn lấy cuộc trò chuyện ấy.

Biển Cửa Đại được xếp vào một trong 50 bãi biển đẹp nhất thế giới. Điều tôi thấy đẹp nhất ở bãi biển ấy là sự bình dân của nó. Phần lớn các bãi biển đẹp đều bị cắt nhỏ cho các khu resort, nên chỉ có người giàu mới được tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên. Biển trưa đó vắng vẻ, chúng tôi ngồi ăn hải sản tươi trên bộ bàn ghế xinh xắn, dưới một tán ô cũng xinh xắn, ngay cạnh bờ biển. Không nhếch nhác hàng rong chèo kéo, khách kì kèo mặc cả như những bờ biển ở phía Bắc, cũng không quá xa xỉ và cô lập như những bờ biển đẹp khác dọc Duyên Hải, dãy hàng ăn dọc biển Cửa Đại mở rộng cửa với tất cả khách, cung cấp cho họ một trải nghiệm ở đẳng cấp nhà giàu, nhưng với giá cả rất phải chăng. Khoảnh khắc tận hưởng càng ghẹ tươi ngọt lịm, nhìn ra biển lấp lánh dưới nắng trưa, và nhắm mắt thấy gió dào dạt đẹp đến nỗi tôi thấy rưng rưng xúc động, chỉ muốn cô đặc nó lại để không bao giờ mất.

Du lịch ở Hội An làm được một điều mà rất ít nơi khác làm được, là không làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của cộng đồng. Hiếm thấy nơi nào có lượng khách du lịch đông đảo và thường xuyên như vậy mà người dân vẫn hiền lành, thật thà, không cố ý lợi dụng khách, và quan trọng nhất là vẫn duy trì nếp sinh hoạt hằng ngày của họ. Không ai chỉ trỏ tò mò đoàn khách nước ngoài đi xe đạp qua làng, cũng không ai bám đuổi để mời mua quạt, mua kẹo cao su, vì họ còn bận trồng rau, cấy lúa. Những làng nghề của Hội An được biến thành những điểm du lịch in trên bản đồ phát miễn phí trong các khách sạn, nhưng người dân vẫn mải miết trồng rau, và trừ khi khách có yêu cầu tham quan, họ thường chỉ nở một nụ cười rồi mặc cho khách ngắm nghía ruộng rau của mình, vẫn cặm cụi làm việc.

Bà Nà không còn hoang sơ như lần đầu tiên tôi đến và nhìn thấy một con bướm to bằng quyển vở. Bây giờ ngọn núi đã được xẻ ra làm đường trơn láng, và trên đỉnh núi mọc lên những lâu đài đền chùa nguy nga. Có lẽ với tham vọng phục vụ tất cả các loại nhu cầu ở một chỗ để níu chân du khách, nhà đầu tư vào Bà Nà xây nhà hàng, khách sạn, một ngôi chùa, vườn hoa, sân tenis, và cả khu vui chơi cho người lớn và trẻ nhỏ. Tôi hơi tiếc vì Bà Nà bị sự can thiệp thô bạo của con người làm cho trở nên giả tạo quá. Mô hình và khuôn mẫu không khác gì vô vàn các khu vui chơi giải trí trên núi hoặc đảo đã rất thành công ở các nước khác như Sentosa ở Singapore hay Genting ở Malaysia. Đáng lẽ Bà Nà đã có thể cao quý và thanh nhã hơn, giờ đây ngọn núi ấy chỉ là một điểm dừng chân trong vài giờ đồng hồ, du khách sẽ rời đi không chút luyến tiếc.

Nhưng có môt khám phá mới ở Đà Nẵng đã bù đắp lại cho sự sụt giảm giá trị của Bà Nà đối với tôi, đấy là khu suối khoáng Phước Nhơn. Nằm ngâm trong bùn ấm thoảng mùi gừng, ngay bên cạnh là ruộng lúa đang bắt đầu chín vàng tỏa hương thơm mát, phía xa là mặt trời đỏ au đang bắt đầu lùi dần về chân trời, núi vẽ những đường mờ tím, tiếng chim hót líu lo đan xen với tiếng nhạc dương cầm dìu dịu, xung quanh lại chẳng có ai, với tôi đấy cũng là một khoảnh khắc rất tuyệt vời. Trên đầu là mái lá lợp bằng dừa, xung quanh hầu như hoàn toàn yên tĩnh, tôi đã nghĩ trải nghiệm ấy không thể hoàn hảo hơn. Mặc dù đường đi từ Bà Nà đến khu suối khoáng hơi trắc trở do vừa đi vừa phải hỏi đường, con xe hôm đó thuê lại ì ạch như con bò già, nên mất rất nhiều thời gian chúng tôi mới đến nơi. Rất may cuối cùng không hề bị thất vọng, giá lại còn rẻ nữa.

Hết bốn ngày, tôi quay lại Hà Nội và tiếp tục dán mắt vào màn hình máy tính. Đà Nẵng lùi vào kỉ niệm, và kỉ niệm thì thường long lanh. Nhưng tôi muốn giữ kỉ niệm này không bám bụi, cho đến khi tôi tìm ra hoặc tạo cho mình một cuộc sống không bức bách nữa.

Tôi vui chơi giữa đời, ối a, biết đâu nguồn cội
Tôi thu tôi bé lại, làm mưa tan giữa trời
(Biết đâu nguồn cội - Trịnh Công Sơn)