Chán

Tuesday, 21 January 2014 Posted by Rain

(Đây sẽ là một trường đoạn ca cẩm, bạn nào không thích những thứ đen tối và mệt mỏi thì tốt nhất không nên đọc).

Mình rất thất vọng, quả thật rất rất thất vọng.

Có một điều mình không thích khi còn học đại học, đấy là các buổi thảo luận, các bài giảng, các chủ đề, đều xoay quanh Canada, Bắc Mỹ, và giỏi lắm thì mở rộng đến châu Âu, phương Tây. Lúc nào mình cũng cảm giác mình là người ngoài cuộc, và chán nản hơn là, mình chẳng có gì thú vị để đóng góp. Những gì mình biết không liên quan đến những bài học, và những gì được đem ra thảo luận thì mình không biết. Cả trong lớp lẫn ngoài lớp, nghĩa là những câu chuyện đầy tính học thuật lẫn những lúc trò chuyện tào lao vớ vẩn, mình đều không tham gia được, và đi kèm với nó là cảm giác mình là người rất nhàm chán. Có một bạn của mình đã nhận xét là về Việt Nam trong mình có sức sống hẳn lên, chắc hẳn cái thần thái sống động đó không chỉ nhờ vào việc được ăn rau củ đầy hóa chất và hít khói bụi ngoài đường, mà chủ yếu đến từ việc mình lại cảm thấy những giá trị của bản thân được khẳng định và thoải mái trong môi trường sống đó.

Cứ tưởng là bây giờ học lên thạc sĩ, và ở một thành phố lớn hơn, môi trường đa dạng hơn, thì sẽ khác, ai dè vẫn y như thế. Mình cứ mong đợi là các bạn học cùng sẽ là những người đã đi làm, đã trải nghiệm, cởi mở hơn và có những mối quan tâm đa dạng hơn, nhưng sự thật hoàn toàn trái ngược. Vẫn là những người cặm cụi học liền một mạch từ lớp 1 đến lớp 12, đại học đến thạc sĩ, và thạc sĩ đến tiến sĩ. Mình vẫn ngồi im như thóc suốt những buổi thảo luận, và nếu mình có phát biểu gì đấy, thì tất cả những người còn lại chỉ ngồi nghe và im lìm, rồi sẽ chuyển sang chủ đề khác, một cách hơi hơi khiên cưỡng.

Có lẽ mình đã lựa chọn sai. Đáng lẽ mình nên học Phát triển quốc tế, chứ không phải Xã hội học.

Bây giờ mình rất mệt, cả về thể chất lẫn tinh thần. Thể chất thì bị cúm, mà ai cũng biết là khi căng thẳng thì cơ thể dễ bị nhiễm virus hơn. Tinh thần thì ngoài nỗi thất vọng lớn lao kể trên, mình còn thấy chán ghét rất nhiều thứ. Mình không thích làm trợ giảng, khi vào trong lớp thấy bọn sinh viên mặt mày phờ phạc, ngồi chịu đựng 50 phút như bị tra tấn, đến phút thứ 40 đã cất hết sách vở đội mũ mặc áo và đến phút thứ 45 thì nhấp nhổm để chạy ra cửa, như thể mình là một thứ kí sinh đáng sợ ai ai cũng muốn xa lánh. Mình không thích một ông thầy và một bà cô, một người luôn tỏ ra bọn sinh viên bây giờ vừa lười vừa ngu, và tao chẳng có tí hứng thú nào dạy dỗ chúng mày, còn người kia thì lạnh lẽo, hà khắc và ít kiên nhẫn. Và những người mình muốn hướng dẫn đề tài nghiên cứu, thì hoặc đã chuyển, hoặc sắp chuyển đi nơi khác. Chưa kể nỗi lo thường trực rằng nếu không đủ điểm yêu cầu thì sẽ không được cấp học bổng tiếp nữa, và linh cảm xấu rằng điều đó sẽ xảy ra.

Có thể mấy năm đi làm đã tạo cho mình một thói quen xấu, không thích những người làm cùng là chỉ muốn bỏ, và thường là mình bỏ. Sức chịu đựng ngày càng giảm đi.

Có một hôm ngủ ít và chán nản, sau một buổi học lại cảm thấy mình bị gạt ra bên ngoài, đang đứng xớ rớ ngoài hành lang thì có một anh PhD đầu hói học cùng lớp chạy lại giới thiệu tên tuổi và bảo nếu cần giúp đỡ gì thì cứ bảo. Chỉ thế thôi mà mình suýt rớt nước mắt, và cũng ngạc nhiên với phán ứng đấy của bản thân. Mình cứ nghĩ là mình đã quen với sự lạc lõng, và không còn bị buồn phiền bởi điều đấy nữa. Hóa ra không phải. Cả ngày hôm đấy cứ thỉnh thoảng lại chảy nước mắt, mặc dù cũng chẳng vì điều gì cụ thể.

Mình cũng nhận ra là, ngoài việc không có mối quan hệ nào thân thiết ở đây, mình còn bị dứt khỏi những mối quan hệ thân thiết ở nhà. Cho dù lúc còn ở nhà một tháng mới gặp một lần, nhưng vẫn cùng múi giờ, vẫn có thể nói chuyện với nhau, còn ở đây thì khi mình có thể nói chuyện được mọi người đều đang bận làm việc, và ngược lại. Thế là bỗng dưng mình bị mất những thứ đang có, và chưa đủ thời gian để xây dựng cái mới, nhất là những người học cùng với mình đã gặp nhau từ tháng 9 và có thời gian để kịp thân thiết với nhau. Mấy người cung cấp dịch vụ cho sinh viên cứ bảo nếu có vấn đề gì cứ đến gặp chúng tôi, nhưng để chia sẻ những nỗi niềm tiêu cực thế này đâu phải cứ gặp ai cũng bô bô kể ra được, còn nếu có thể làm thế, thì đã không phải là những trăn trở muộn phiền. Kể lể về nỗi buồn bao giờ cũng khó hơn nói về niềm vui, vì khi buồn bã thì người ta cũng lo lắng không hiểu người nghe có tiếp nhận và hiểu được không. Kể về những sự yếu đuối bao giờ cũng đòi hỏi phải mở lòng nhiều hơn, và như thế đặt mình vào vị trí dễ bị tổn thương hơn.

Hôm trước tự dưng nhớ ra hồi mình mới đến đây đã nghĩ bụng mình thật giống một quả dừa, bên ngoài trông cũng tròn trịa và có vẻ vững chãi, nhưng ở giữa là một lỗ hổng to. Bây giờ cũng đang cảm thấy y hệt như thế. Chỉ muốn bỏ cuộc đi về.

Nhất là khi vừa buồn, vừa lạc lõng, vừa chán ghét, lại vừa bị cúm.

After my first month in Canada

Sunday, 12 January 2014 Posted by Rain

There are a few things I like

1. The mere fact that I am familiar with how things work saves me a lot of confusion, embarrassment and stress, such as how to use a debit card, how to order a Subway sandwich (I have to relearn though, what type of bread, names of all the cheese and sauces), how to flush a toilet (there are many different ways), how to request a stop while on the bus, etc. And that I already have a bank account and warm clothes saves me time and worries. My body already went through a bad lactose reaction last time, so although my stomach was upset for the first few days, the problem disappeared much quicker.

2. I have a furnished room in a furnished house, so I don't have to buy any furniture, even towels, blankets and pillows are supplied. Needless to say, that saves me tons of money, time and efforts.

3. My landlady is very nice. She picked me up from the bus station, fed me the first day and lent me her toothpaste. I remember last time I went 1.5 day without food because I lived on residence, my meal plan wasn't set up and I constantly got lost as I ran between buildings to complete paperwork. This time, as soon as I finished unpacking my luggage, I could eat and go to sleep.

4. My roommate is super nice, too. She is doing her second PhD, so I can learn a lot from her, especially in terms of being a TA (my obsession these days). Sometimes we have a philosophical discussion in the kitchen, and one evening we talked for 3 hours straight when she basically gave me an account of her life. She is introvert, much like myself, so I thank my landlady for picking the right people to share her home.

5. I went on a trip for a week, which I kind of hesitated at first, because I had to stay with people I don't know. But I made myself do that, thinking of how before I left Canada last time I promised myself if I had another chance I would do better in terms of enjoying life here. So I went, but it was good. I was invited to a family for the New Year celebration, and I have always wanted to experience a family event in a Canadian home. Well, that's the advantage of having friends from my previous stay. They are very loving, and I tried my best to relax and be comfortable. Next, I went on a trip with my friend, her boyfriend and his friends. I don't know those three guys, but they turned out making me laugh a lot. Possibly because I am older now which gives me certain level of self awareness and self understanding, and this in turns helps me to relax around people.

6. Being a grad student feels good, at least in the beginning. I have a desk in a shared office, I can use the department lounge, I can print for free, the department chair remembers my name, I have my own mailbox, and I have the same class with the people I share the office with, which naturally leads them to talk to me, even if I don't know what to say to them. I remember how I didn't make any friends in class last time, because everyone stayed for the lecture, said nothing to each other and left. I didn't go to bar or parties, so I didn't have many opportunities to socialize, which I dreaded anyway.

7. The campus is big, much bigger than my previous university. I was surprised to find all kinds of services for students, and especially a grocery store. There are many events to attend, interesting talks to listen. I am still lazy when it comes to doing things on my own, e.g. go to a concert alone, but at least I am no longer afraid of being seen as weird. It took me a long time to feel comfortable when being alone in a crowd. Last time, I didn't want to eat alone in the campus cafeteria because everyone else sat in a group, or at least with a friend, so I always brought food back to my room and ate in front of my laptop, or went to the riverside so no one could see me. Gradually, I realized that no one cares. And gradually, I myself stopped bothering. It was one step towards liberating myself from what I think other people think of me. So for now, it's laziness and self-motivation that I lack, which is easier to deal with.

8. The fact that my English is better than last time helps a lot, at least I don't have to struggle to take notes in lectures or constantly stretch my mind to adapt to speaking and listening in English.

9. I have signed up for a dance class and will learn Chinese, both of which I have started learning, have quit and now I am about to take up again the third time.

10. There is an Asian supermarket near where I live, which is absolutely a delight. I was so happy when I was in there for the first time, finding all familiar ingredients for Vietnamese food. Last time I lived in a small town where there is only a small shop selling Asian products. This supermarket is much much bigger, cheaper than most other supermarkets that sell "white" food, and within walking distance, so of course I couldn't ask for more.

11. There is no more cigarette smoke surrounding me, and my pimples have gone away. Yay!

12. Going to school constitutes an easy lifestyle, at least easier than working. Everything is laid out for you, you don't have to navigate or think much what to do next. There are clear descriptions of workload, expectations and standards for achievement. As long as you make certain efforts, you will gain certain awards. This is not something I really really like, but I acknowledge that after the crisis I had a few times as I didn't know how my life should proceed, I could appreciate how privileged students are to have some peace of mind. Life in a university is regulated, goals are set, assessments are given, my job is just to follow.

And a few things I struggle with

1. When I was on the airplane, I admitted to myself that I was tingled with a mild but clear sense of regret. I regretted the good life I spent 2 years to set up and had just started enjoying. Good flow of work, good friends, interesting opportunities, a good romantic relationship, and absolutely functional family, I was having a normal life. "What did I do to myself? Why did I have to leave?" Those questions kept coming back to me during that 18 hour flight. Going to the unknown is never exciting, or comforting to me. Even though as soon as I landed in Canada, I could pick up from where I left almost 3 years ago without much disruption, I still didn't feel at ease. But then, I told myself that my life back home was nice and easy, but it will keep on being that way with no significant breakthrough if I keep living there. So leaving is good, even needed, because a change in the environment will kick me forward, rather than just floating contentedly through life. With a MA, I hope I can figure out what I want to do next, either stay in the academia or work, and if I work, I will be qualified for better jobs.

2. Being a teaching assistant is not a piece of cake, at least for now. I've had my first week, and I have enough diverse results to understand that how a particular tutorial goes doesn't only depend on me. That lifts a huge pressure off my shoulders. But still, I am not entirely comfortable and confident when standing in front of students. I would be more so if I were in Vietnam, because as they say, it's my playground. But here, I am in Canada, talking about Canadian society to Canadian students. Many times, I was conscious when I say "our society", or "what should we do?", because I don't feel it's appropriate to include myself in that collective. And even though I remind myself times and again that I have worked as a conference interpreter for a UN agency, I am still painfully aware of my pronunciation, and when I am not comfortable (speaking in public), that makes it even worse. Again, I know I have to stop caring how other people think. But it's a time consuming process.

3. I get lost, obviously, and struggle with the bus system. I already got on the wrong side of 2 different buses twice, resulting in a very long and spinning ride. The bus here are confusing, they change between morning and afternoon, change from one number to another. Well, it always takes time, especially with my terrible sense of direction.

4. My brain is slowly switching from Vietnamese dominant to English dominant. While I have the advantage of the previous 4 years, courses this time are more demanding, the texts are more difficult, so this process needs to speed up.

5. Friends often ask how I feel, and the answer is "nothing". I neither feel excited nor bored, happy nor sad, homesick nor thrilled. This is not something I struggle with, and I am not surprised, because I never really like a place immediately. So either I don't like it or I don't have any feelings. But on the other hand, I am kind of numb, because there are things I want to write about, such as the New Year's Eve in my friend's family, but I don't feel like doing it. Or I don't feel the need to make friends either. I am not too worried about this though. A lesson from last time is one way or another, I will gravitate towards people that I like, so I shouldn't waste energy worrying about that.

Về hay ở

Wednesday, 4 December 2013 Posted by Rain

Càng đi ra ngoài nhiều tôi càng bớt yêu Hà Nội.

Tôi vẫn chưa gặp được thành phố hay vùng đất nào khiến tôi yêu từ cái nhìn đầu tiên. Tôi không có nhiều ấn tượng lắm với điện đài, kiến trúc, sông núi hay thắng cảnh, nên những gì còn lại chỉ là con người. Mà bạn biết rồi đấy, tôi đã sống ở Hà Nội suốt hơn hai chục năm qua mà chưa bao giờ gặp được người nào khiến tôi phải thốt lên “Ôi, quả là một người Hà Nội chính gốc.”

Mỗi khi có ai hỏi tôi quê ở đâu, hay chìa giấy tờ tùy thân ra, thì tất nhiên tôi phải trả lời rằng mình là người Hà Nội. Có rất nhiều người không thỏa mãn với câu trả lời đấy, có lẽ trong thâm tâm họ nghĩ rằng, làm gì có ai là người Hà Nội, chỉ có những người ở nơi khác về đó sống lâu rồi tự nhận mình là người Hà Nội thôi. Trong trường hợp của tôi, thì cái lâu đó bắt đầu từ ông bà nội ngoại, nên tôi hầu như cũng không còn kết nối gì với những nơi ông bà tôi gọi là quê. Tôi là thế hệ mà nguồn gốc xa xôi nhất chỉ bám rễ được vào nơi không có ai cho đấy thực sự là quê cả.

Nhưng có những miền đất khiến tôi thấy dễ chịu, và muốn quay trở lại để sống, như Đà Nẵng chẳng hạn, phần lớn vì con người ở đó hiền hậu tốt bụng. Tôi không dám chắc rằng, nếu tôi là người nơi khác đến, liệu tôi có vương vấn gì với Hà Nội không. Hoa sữa quá ngắn ngủi, mặt nước hồ Tây mờ ảo mỗi ngày lại bị xẻ nhỏ hơn bởi những khách sạn, nhà hàng nổi, sân golf nước, và các đường kè chằng chịt. Chiều hôm qua trên đường về nhà đúng giờ tan tầm, sau lưng tôi có một chiếc xe cứu thương hú còi inh ỏi mà người và xe vẫn ken đặc. Tôi nhìn qua kính thấy chai truyền treo lơ lửng và người nhà trong xe nhấp nhổm không yên. Nếu tôi là họ, có lẽ đấy là lúc tôi thấy căm thù giao thông ở Hà Nội nhất. Nghĩ đến thế thôi mà cũng cay cay mắt (hoặc là do bụi).

Những gì người ta gán cho Hà Nội, hay đúng hơn là cho tình yêu của họ với Hà Nội, là những thứ đối với tôi hoặc đã mất hoặc quá sáo rỗng. Tôi ngờ rằng giá trị của Hà Nội đối với tôi bây giờ chỉ là những cơ hội nghề nghiệp, những hợp đồng giúp tôi kiếm tiền dễ dàng với bằng cấp của mình mà nếu không ở thủ đô thì khó mà vớ được. Và sợi dây kết nối tôi với Hà Nội không phải là với một thành phố đáng yêu, mà là với nơi mình đã quá quen. Có lẽ nếu có nhớ, tôi chỉ nhớ Hà Nội như một thói quen, một phần của kí ức, một chỗ để bám trụ vào quá khứ của mình cho khỏi phân vân quá nhiều mình là ai và mình thuộc về đâu. Mình thích ăn bún riêu và bánh cuốn, có thể ngồi ăn ở bất cứ đâu trên vỉa hè, kể cả gần cống hay bãi rác, thế chứng tỏ mình là người Hà Nội. Nhưng cả những sở thích đó, tôi biết rất rõ rằng chúng được hình thành từ thói quen, không phải từ lòng cảm mến.

Dĩ nhiên tôi sẽ nhớ những cảnh người người nhà nhà ngồi tràn lan trên vỉa hè, rất phơi bày nhưng cũng rất riêng tư, vì ai cũng nhìn thấy nhau nhưng không ai thật sự nấn ná trên khuôn mặt nào. Tất cả những con người đấy chỉ là một chấm trong bức tranh phố phường, họ có mặt nhưng cũng không có mặt. Giống như tôi có thể ôm người yêu trên xe máy, tựa cằm vào vai anh nhưng không dám nắm tay trước mặt gia đình. Ở trên phố, chúng tôi hữu hình mà vô hình, đám đông là một nơi an toàn để lẩn vào, cộng thêm hai cái khẩu trang, phụ kiện không thể thiếu của người Hà Nội, thì có bao nhiêu cơ hội để người khác nhận ra tôi? 

Ở Canada chẳng hạn, người ta không ăn uống ngoài đường, tất nhiên trừ BBQ thì đã là hẳn một kiểu ăn có phong cách riêng, còn lại tất cả phải ngồi đàng hoàng trong nhà, đường phố chỉ có nhà, cây và ô tô, trong những ngày mùa đông kéo dài đằng đẵng thì chỉ có những khối xám vật vờ, lúc mới sang tôi nhớ người biết bao nhiêu.

Và tôi cũng sẽ nhớ mùi hương đã cháy gần hết bảng lảng quanh mình khoảnh khắc tôi mở mắt mỗi sáng ngày rằm hay mùng một. Hay mùi thức ăn đang chín từ dưới bếp tỏa lên khi tôi bước ra khỏi phòng tắm lúc xế chiều, đi xuống là đã có mâm cơm nóng hổi ngon lành mà tôi không phải đụng tay. Nhưng điều đó dĩ nhiên không phải vì tôi ở Hà Nội, gia đình nào cũng có những giờ phút như thế.

Dạo gần đây có nhiều người hỏi tôi có định ở lại sau khi học xong không, câu hỏi chắc là du học sinh nào cũng phải trả lời người khác và trả lời chính mình. Tôi vật vã hỏi và loay hoay trả lời, có lẽ trong suốt cả bốn năm học đại học. Dĩ nhiên đấy không chỉ là vấn đề về hay ở, mà chỉ là một phần lớn hơn trong những băn khoăn và khủng hoảng của những người trẻ đang cố định hình cho cuộc đời mịt mờ của mình. Mình thích gì, mình có thể làm gì, mình cần gì, mình muốn gì, tưởng như là một chuỗi những chồng chéo đan xen phức tạp không bao giờ chấm dứt.

Tôi không nhớ chính xác mình đã quyết định về thế nào và từ lúc nào. Năm học cuối, tôi đã cảm thấy sự kết nối của mình với Việt Nam rất mong manh, và tôi rất bình thản quan sát kết nối ấy mờ dần. Tôi đã đủ thờ ơ để không còn quá quan trọng việc sống ở đâu nữa, như lời một câu hát thì là “đã hết buồn và hết vấn vương”. Không còn buồn vì nhớ nhà, cũng không còn vấn vương muốn quay về nữa.

Nhưng tôi không thấy cơ hội làm việc ở Canada sáng sủa cho mình. Trong suốt quá trình học, hết lần này đến lần khác tôi không thể xin việc, hoặc bị từ chối vì việc đó chỉ dành cho công dân Canada, hoặc ít nhất là người định cư lâu dài. Tôi không trách móc gì sự thật đấy, chỉ có điều nó luôn nhắc nhở tôi rằng tôi không phải là một phần của xã hội và sẽ có ít cơ hội hơn để cạnh tranh khi ở đây, và viễn cảnh sống lâu dài ở đó cũng không hấp dẫn tôi nhiều lắm. Có nhiều người sẵn sàng bỏ ra một vài năm đầu vật lộn để leo dần lên những bậc thang xã hội, nhưng họ còn có động lực là để được định cư ở Canada, tôi chẳng có chút ham hố nào, vì thế tôi thấy những năm tháng tuổi trẻ như thế sẽ khá lãng phí.

Về Việt Nam thì mọi thứ dễ dàng hơn cho tôi, cả về vật chất, tinh thần và sự cộng nhận của xã hội, nên có người cho rằng tôi đã hèn nhát và yếu đuối, lại về rúc trong tổ ấm quen thuộc được bao bọc. Một ông bác đã mắng mẹ tôi là chiều con quá, bao nhiêu người muốn bỏ tiền ra để đi còn không được, đây mình lại về. Nhưng trong hơn hai năm qua ở Việt Nam tôi đã làm được nhiều thứ hơn là nếu tôi đã ở Canada, tôi tin là thế.


Lần này cũng vậy, tôi cũng chẳng biết mình sẽ thế nào. Mọi người hỏi rất nhiều có định định cư ở Canada không, cứ như thể tôi đi là để ở lại, chứ không phải để học. Đi đâu, ở đâu sau khi học xong, nhưng cũng rất may là tôi thấy việc trả lời những câu hỏi đấy không quá quan trọng nữa. Đến lúc cần biết thì sẽ biết thôi mà. Cuộc đời có bao nhiêu cơ hội, lập kế hoạch quá nhiều sẽ tự giới hạn bản thân và gạt bỏ những cơ hội đó, có phải không? 

Dịch chuyển

Tuesday, 12 November 2013 Posted by Rain

Mỗi lần dịch chuyển, trong chừng mực nào đó, là một cơ hội để làm lại từ đầu.

Lần dịch chuyển đầu tiên của mình là năm lên lớp 10. Từ lớp 2 đến lớp 9 mình được làm lớp trưởng, rồi bí thư Đoàn, nói chung là vào loại có chức có quyền trong lớp. Nhưng tất cả bắt đầu từ một sự ngẫu nhiên. Hồi lớp 2, khi cô giáo mới nhận lớp và chưa biết cháu nào với cháu nào, cô muốn bầu ra một bạn lớp trưởng. Khi cô đang quét mắt rà soát khắp lượt thì mình ngẩng lên và nhìn vào mắt cô. Thế là cô chỉ định luôn, vẫn còn nhớ hồi đấy mình tết tóc hai bên. Trong suốt những năm làm lớp trưởng đấy, mình luôn mơ hồ cảm thấy là mình thật ra không thích hợp cho vị trí này, vì chẳng đứa nào sợ mình, mình không có uy, không giữ được trật tự lớp, dằn vặt bản thân những lần vì nghĩa vụ mà phải báo cáo cho thầy cô giáo những bạn nào "yêu nhau" ở trong lớp. Mình luôn canh cánh trong lòng câu hỏi, có phải tất cả chỉ là thói quen, vì mình đã làm lớp trưởng lớp 2 nên làm tiếp lớp 3, rồi một mạch hết cấp 1. Khi xin vào trường cấp 2 thì bố mình đã dẫn thành tích làm lớp trưởng và cô hiệu trưởng nhận luôn hồ sơ mà không cần kì kèo nhiều, nên mình lại tiếp tục làm lớp trưởng hết cấp 2. Mình luôn muốn biết có phải là mình thật sự xứng đáng với vai trò đấy, hay tất cả chỉ là kết quả kéo theo của một sự tình cờ.

Thế nên lúc vào lớp 10, mình giấu tiệt cái lý lịch hoành tráng đấy đi, nhất quyết không khai ra khi lớp bắt đầu bầu bán ban cán sự. Lần đầu tiên, mình sống cuộc đời dân thường trong lớp, và cảm giác như bị mất đi một ít bản dạng (identity) của mình. Quen được các bạn cùng lớp gọi là "lớp trưởng", quen được làm trung tâm của sự chú ý, quen là đại diện của quyền lực được trao gửi từ phía các thầy cô, mình đã bị mất phương hướng một thời gian dài. Mình nhớ bọn bạn cũ, những đứa luôn gọi mình là "chị", yêu quý mình và nể trọng mình. Mình sống như một con kiến câm lặng trong tập thể lớp 10 đấy, thấy không thoải mái với sự bỗ bã cười cợt của những đứa ngồi xung quanh, không biết nói gì với bọn nó. Bọn nó thấy mình ngồi rù rù một góc, cũng không hỏi.

Phải mất rất lâu, rất lâu, mình mới tìm được một vài đồng minh là những cô bạn ngoan hiền như mình, trong đó, phần lớn là những cô có nhu cầu nói khủng khiếp mà không có ai nghe. Họ chơi với mình vì mình lặng lẽ và kiên nhẫn, chỉ vì không biết từ chối ra sao, ngồi nghe những câu chuyện kéo dài hàng tiếng đồng hồ, xuyên từ tiết học này sang tiết học khác của họ.

Đến cuối năm lớp 11 thì mình được bầu làm lớp phó, vì học giỏi văn, mà cô chủ nhiệm dạy văn, còn lý do nào nữa hay không thì mình không biết, nhưng mình rất hài lòng vì đã trả lời được câu hỏi của bản thân suốt 7 năm làm lớp trưởng. Có thể trong bản thân mình có một phẩm chất gì đó, có thể mình xứng đáng, có thể đấy không phải là kết quả của cái liếc mắt ngẫu nhiên. Có thể dù hôm đó mình không ngẩng lên nhìn cô giáo, thì mình vẫn sẽ làm lớp trưởng, qua con đường này hay con đường khác.

Lần dịch chuyển thứ hai của mình là lúc lên đại học. Mình cố sống cố chết để đi du học cũng vì muốn trả lời câu hỏi "giới hạn của mình nằm ở đâu". Có một lần hồi lớp 9 đi chơi xa bằng xe đạp bị lạc, ngày hôm đó mình đã đạp khoảng 60km cả đi cả về, mà bản thân không bao giờ nghĩ mình có thể đạp xe như thế. Từ đó nghĩ rằng, khi bị đặt vào những hoàn cảnh cùng cực, mình sẽ khám phá ra được những khả năng của bản thân. Việc đi du học chính là để đặt mình vào một hoàn cảnh như thế.

Và cái sự cùng cực đấy chính là việc cảm thấy vô cùng lạc lõng, không có gì để bám trụ, tất cả những cái từ trước đến nay mình biết và coi là một phần của identity đều bị xóa sạch. Không chỉ là một vai trò cụ thể như là "lớp trưởng" nữa, mình chẳng còn gì cả. Con ngoan, trò giỏi, thanh niên năng động. Ở chỗ không ai biết mình là ai, sau khi giới thiệu tên, quốc tịch, mình chẳng biết nói gì nữa. (Chưa kể với phần lớn những người ở đó, tên và quốc tịch của mình cũng quá xa lạ và chẳng gợi ra điều gì). Không có dấu mốc nào để bám vào mà nói tôi là ai. Giữa những người lạ hoắc và quá khác biệt, mình chẳng biết nên tô vẽ gì để ra được hình ảnh của bản thân. Cứ loay hoay, loay hoay như thế.

Thời gian đầu thì ban ngày mình căng như sợi dây đàn, ban đêm lại bị hành hạ bởi những giấc mơ mang mình trở lại quá khứ, chỉ để lúc tỉnh dậy mình ngơ ngác và cay đắng nhận ra hiện tại là mình đang ở một nơi hoàn toàn xa lạ và không thể chạm vào những người mình muốn gặp. Rất nhiều lần trong những giấc mơ đấy, mình đang chuẩn bị làm một việc gì đó rất vui, rồi trong mơ tự ngừng lại và hỏi: "nhưng mà bây giờ mình có còn ở đây nữa đâu? thế thì mình đang ở đâu nhỉ?" rồi tỉnh dậy. Thời gian sau mình co rút vào vỏ ốc, nhiều lúc cảm thấy mình chẳng còn kết nối với chỗ nào, gia đình hay bạn bè cũng không còn quá quan trọng. như con diều đứt dây, bay về hướng nào cũng thế.

Mình cũng rất hài lòng khi vào những ngày cuối cùng, cũng có những người yêu mình và buồn khi chia tay mình, dù họ không phải là những sinh viên bạn học cùng như mình tưởng tượng trước đó. Tức là, cho dù thế nào, mình cũng tìm được những người yêu quý mình. Tức là mình có một bản chất gì đó để người khác yêu quý, chứ không phải chỉ vì mình là con ngoan, trò giỏi, học sinh gương mẫu. Mình cũng không biết mình có trả lời được câu hỏi ban đầu về khả năng phi phàm của bản thân không. Chỉ nhớ là, mình tự rút ra một câu mantra để nghĩ trong đầu mỗi khi đương đầu với một khó khăn to oạch "việc gì rồi cũng sẽ qua". Mình đã nghĩ như thế lúc bị người yêu đá, lúc phải một mình vác giường vác tủ, lúc thấy quãng đường đi phía trước thật là dài. Nỗi buồn sẽ qua, niềm vui cũng sẽ qua. Mình vật lộn với những câu hỏi "mình muốn gì, mình cần gì, mình giỏi cái gì, mình nên làm gì" trong suốt những năm ấy. Rồi tất cả cũng qua.

Lần này lại sắp sửa một bước chuyển dịch mới. Mình hiểu là mình có thể xóa sạch tất cả những gì mình đã có, và làm lại từ đầu. Ở nhà nếu đi chơi mình phải về lúc 9 rưỡi tối, nhưng đi rồi mình có thể ở ngoài đường thâu đêm. Sẽ không ai biết mình đã từng thế nào, hay mình nên là người ra sao. Không ai có kì vọng mình phải hành xử như mình mà họ biết. Cái suy nghĩ đó vừa tự do, vừa đáng sợ. Ở trong một chừng mực nào đó, mình có thể tự tạo ra mình, một con người mới, với những người mà mình sắp gặp và sẽ sống cùng trong ít nhất 2 năm.

Chỉ có điều, hai lần trước mình đều có những câu hỏi rất thôi thúc, lần này thì chưa xác định rõ câu hỏi mình muốn trả lời là gì.

Oh, probably I want to find out what it is that I really love, a person, a thought, a philosophy, a project, or anything that I love deeply and unconditionally.

Phân tích giới dựa vào Google

Thursday, 7 November 2013 Posted by Rain



Việt Nam có rất nhiều lý do để lạc quan về một thế hệ mới hội nhập cùng thế giới nhờ sử dụng Internet thành thạo. Các nghiên cứu gần đây cho ra những con số rất ấn tượng. Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người dùng Internet nhiều nhất thế giới, và là một trong hai nước có số lượng người dùng lớnnhất trong khu vực Đông Nam Á. Tỉ lệ số người dùng chiếm đến 34% dân số, với nhóm tuổi từ 15-19 và 20-24 chiếm nhiều nhất. Điều này cũng dễ hiểu vì dân số Việt Nam là dân số trẻ, và trong những năm gần đây, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã cố gắng để giữ mức cước vừa túi tiền với đại đa số người dân.

Tuy số người dùng và cả thời lượng Internet đều nhiều vào loại nhất nhì khu vực, nhưng qua khảo sát, phần lớn người dùng ở Việt Nam dành thời gian để truy cập các tin tức giải trí, các mạng xã hội, download nhạc, phim, thay vì dùng Internet để đưa ra chính kiến của mình hay để kết nối với nhữngngười cùng chí hướng để tạo ra những thay đổi tích cực trong xã hội.

Tôi làm một thí nghiệm nho nhỏ phỏng theo một chiến dịch được công bố hồi tháng 10 của UN Women (Cơ quan Liên Hợp Quốc thúc đẩy bình dẳng giới và trao quyền cho phụ nữ). Chiến dịch này là những bức ảnh sử dụng thông tin từ Google. Khi người dùng gõ những dòng chữ “phụ nữ không thể” thì Google sẽ tự động gợi ý một số từ được người dùng Internet tìm nhiều nhất, như “phụ nữ không thể lái xe”, “phụ nữ không thể phát biểu trong nhà thờ”, “phụ nữ không thể được tin cậy”. Đây là một minh chứng sống động về việc những định kiến nhắm vào phụ nữ vẫn hiện diện, ngay cả trong thế giới không có những lằn ranh về lãnh thổ, tuổi tác, sắc tộc và giới tính như Internet.

Những người dùng Internet ở Việt Nam thì sao? Google là công cụ tìm kiếm được biết đến nhiều nhất và sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam. Vì người dùng Internet chủ yếu là giới trẻ ở các thành phố lớn, có học thức, có điều kiện tiếp xúc với nhiều luồng tư tưởng và dễ tiếp nhận suy nghĩ mới, Google chắc chắn cũng thu thập được những dữ liệu hé mở về những gì những người trẻ và có học thức ở Việt Nam quan tâm.
   








Những kết quả đầu tiên cho thấy, so sánh với việc tìm bằng tiếng Anh, kết quả của cụm từ tương đương bằng tiếng Việt (women should not, women need, women must) không mang lại những gợi ý cực đoan và đầy tính kì thị như trong chiến dịch của UNWomen. Đây có phải là là tín hiệu mừng vì Việt Nam mình kì thị phụ nữ ít hơn chăng?

Tôi e rằng kết luận như vậy là quá sớm. Thứ nhất, người Việt vốn không ưa tranh luận, nên sẽ tránh đưa ra những ý kiến dễ bị ném đá. Truyền thống của ông bà để lại nào là “một điều nhịn là chín điều lành”, “dĩ hòa vi quý”, “cơm sôi nhỏ lửa”, “xấu chàng hổ ai”, tất cả đều hướng đến sự nhường nhịn để giữ gìn hòa khí chung. Về mặt này, đời sống Internet của người Việt chắc chắn cũng bị ảnh hưởng từ đặc tính văn hóa. Mặc dù trong tỉ lệ người dùng và cả thời lượng dùng Internet, nam giới chiếm nhiều hơn, nhưng lại chủ yếu dành thời gian để chơi game và tải phim, tức là để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, trong khi nữ giới lên mạng để đọc tin tức, vào các mạng xã hội, chat với bạn bè, tức là  để kết nối với người khác. Đây là xu hướng chung ở nhiều nước. Vì thế, có cơ sở để tin rằng những tìm kiếm trên Google ở Việt Nam cũng chủ yếu do nữ giới thực hiện, những người đã thấm nhuần tư tưởng không nên đặt mình đối lập với đám đông.

Thứ hai, người dùng vẫn hướng đến việc tìm kiếm thông tin hơn là tìm kiếm quan điểm hay tư tưởng. Nhất là ở dòng "phụ nữ nên", một loạt các gợi ý được đưa ra là các câu hỏi về việc ăn gì, học gì, làm gì. Người dùng Internet chưa có thói quen sử dụng nó như một công cụ để tìm kiếm các luồng suy nghĩ, mà mới chỉ dừng lại ở cấp độ thông tin để giải quyết cho những khúc mắc cụ thể. Điều này không có gì ngạc nhiên trong tình cảnh nội dung đưa trên Internet đều ít hay nhiều chịu sự kiểm duyệt của nhà nước. Bộ Văn hóa Thông tin cùng rất nhiều bộ ngành khác chịu trách nhiệm về việc quản lý các thông tin trên mạng đã tìm nhiều cách để lèo lái dư luận theo ý mình muốn, từ cấm, chặn, cho đến sử dụng một đội ngũ dư luận viên hùng hậu được đào tạo để hướng suy nghĩ của cộng đồng người dùng mạng theo chiều hướng chấp nhận được, tức là có thể nóng bỏng nhưng vô thưởng vô phạt, tranh luận thế chứ tranh luận nữa cũng chẳng ảnh hưởng đến ai. Từ yếu tố tự nhiên là văn hóa, cho đến yếu tố xã hội là cố gắng của nhà nước trong việc điều khiển thông tin trên mạng, nên đại đa số người dùng Việt Nam vẫn không quan tâm đến nhiều đến những suy nghĩ, mà phần lớn dừng lại ở mức độ thông tin rời rạc, lẻ tẻ. Đấy cũng là chiều hướng được lèo lái. Nếu người dân không hệ thống hóa được các hiện tượng xã hội và chỉ nhìn chúng như các sự kiện tách biệt, hôm nay có người bị vứt xác trôi sông, ngày mai có người bị chặt đầu, ngày kia có người đi tù oan, thì nhà nước sẽ rất dễ điều khiển.

Tôi mở rộng thí nghiệm này và thử gõ các dòng chữ tương tự nhưng bắt đầu bằng "đàn ông"


Điều rất dễ nhận thấy khi đặt hai tìm kiếm này cạnh các tìm kiếm về phụ nữ, là mặc dù thái độ về giới của người dùng Internet ở Việt Nam không cực đoan, nhưng lại vô cùng cứng nhắc. Nói đến phụ nữ là phải đẹp, phải lấy chồng, phải ở trong vai trò làm mẹ và làm vợ, còn nói đến đàn ông là nói đến tiền, địa vị xã hội và tình dục. Các từ khóa tiếng Anh còn đưa đến bức tranh về phụ nữ trong xã hội, ví dụ như phụ nữ không thể làm đức giám mục, phụ nữ không thể bầu cử, còn các từ khóa tiếng Việt chỉ đặt phụ nữ trong một mối quan hệ duy nhất, là mối quan hệ với đàn ông. Phụ nữ cần đàn ông, phụ nữ cần chồng, phụ nữ cần thằng đểu. Dĩ nhiên nguyên tắc này cũng áp dụng với đàn ông. Đàn ông cần gì ở phụ nữ, đàn ông cần gì ở người yêu, đàn ông cần gì ở vợ. Nhưng có một thứ đàn ông cần mà không thấy xuất hiện khi tìm về phụ nữ là "cần gì ở trên giường". Điều này cũng nói lên rất nhiều về thái độ của xã hội Việt Nam nói chung về tình dục cho nữ giới. Phụ nữ cần làm đẹp, cần làm vợ, cần làm mẹ, nhưng không cần làm người tình.

Cuối cùng là, một điều đơn giản tôi nhận thấy sau những phân tích trên, là vấn đề giới ở Việt Nam không phải không tồn tại, mà không được nói đến. Người ta có thể nói những vụ vợ bị chồng đánh, bị đối xử tàn bạo, các cô gái bị bạo hành, lạm dụng, nhưng không ai gọi thành tên những hiện tượng ấy hay coi chúng là biểu hiện của một hệ thống lớn hơn, mà chỉ xoáy sâu vào chỉ trích, phê phán trường hợp cụ thể rồi lại nhanh chóng quên đi. Không ai lớn tiếng nói rằng phụ nữ không được làm cái này cái nọ, bởi thật sự họ không cần nói. Từ xưa đến nay không có ai đặt câu hỏi tại sao không được làm, vì thế cũng không ai phản kháng. Không ai hỏi "Tại sao đàn ông lại phải mạnh mẽ?" nên người ta chỉ đi tìm cách cho mình mạnh mẽ, chứ không ai nói rằng "Tôi là đàn ông và tôi không muốn mạnh mẽ".

Nhưng họ không nói tới chuyện đó, thậm chí không nghĩ đến. Tư duy phê phán (critical thinking) không phải là để hùa theo đám đông la ó chê bai một hiện tượng nhỏ lẻ. Tư duy ấy là khi người ta bứt ra khỏi những điều mình cho là tự nhiên và bình thường, để nghĩ từ một góc độ khác. Bước đầu tiên để thay đổi một điều gì đó, là phải nghĩ về nó đã. Tiếp đó mới đến đặt câu hỏi, và khi không có câu trả lời thỏa đáng, người ta mới thấy thôi thúc để tạo ra thay đổi nào đó. Vì thế, sự thiếu hụt những gợi ý cực đoan của Google khi tôi tìm kiếm những cụm từ liên quan đến phụ nữ và đàn ông ở Việt Nam chưa hẳn đã là dấu hiệu đáng mừng. Nó không thể hiện rằng Việt Nam không có bất bình đẳng giới, mà có thể đơn giản là vì người dùng Internet ở Việt Nam, những người trẻ nhất, có học nhất và có điều kiện tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhất, chưa hề nghĩ đến và gọi tên những điều họ cho là bình thường.