4 tháng
Thế là mùa xuân cuối cùng cũng đến, loạng quạng tiến hai bước lại lùi một bước, cứ như trêu ngươi. Một hôm trời đã ấm, nắng đã vàng, gió đã mát chứ không còn lạnh, đi ngoài đường lòng vui phơi phới, thì hôm sau tuyết lại rơi, sáng ngủ dậy kéo rèm nhìn ra cửa sổ thấy mái nhà trắng xóa mà không tin vào mắt mình. Năm nay mọi người bảo mùa đông rất tồi tệ. Số mình đúng là may mà, quay trở lại Canada sau ba năm gặp ngay mùa đông dài lê thê và nhiệt độ xuống thấp mức kỉ lục. Ngày thứ hai đi học đã được nghỉ vì cộng cả gió và độ ẩm, nhiệt độ xuống tới gần âm bốn chục, tức là nếu láng báng ở ngoài mà không che chắn cho kĩ, chỉ sau năm phút là mảnh da hở sẽ bị đông cứng ngay.
Ở xứ lạnh, bước chuyển thời gian thật rõ rệt. Cuối tuần ngày đầu xuân, ngồi trong phòng mình thấy dưới đường có hai đứa trẻ chơi cầu lông, bên hiên nhà đối dêện có hai ông bà già tóc bạc lơ phơ bắc ghế ra ngoài ngồi sưởi nắng. Giống như mùa xuân mang sự sống trở lại. Những con người suốt cả mùa đông không biết trốn ở đâu, đến khi trời ấm lên bắt đầu kéo nhau ra ngoài. Người chạy thể dục, người dắt chó đi dạo, người đạp xe, người xách túi đi chợ, tự nhiên nhìn quanh cảm giác mình đang ở một thành phố, chứ không phải một ốc đảo trắng toát như bốn tháng vừa qua. Rồi cỏ và hoa. Tuyết tan được vài ngày, nắng ấm và những trận mưa xuân rất ngắn cũng đủ làm cỏ lên xanh rì. Hôm qua đi học về đã thấy những bụi hoa đầu tiên. Lần nào ở đây mùa xuân mình cũng cảm thấy sự sống gấp gáp của vạn vật. Nếu không mọc lên nhanh, đơm hoa nhanh, rồi nhanh nhanh chóng chóng kết quả, rồi vùi những hạt mầm đó vào đất, hoặc để những chú sóc tích trữ hạt về tổ, thì chẳng mấy chốc mùa thu sẽ lại tới, cây sẽ rụng sạch lá và thế là hết. Bây giờ đã gần cuối tháng 4, cây cối vẫn khẳng khiu đâm lên trời, chưa ra lá non, vậy mà cuối tháng 8 lá đã bắt đầu rụng, cuộc sinh tồn ngắn ngủi gấp gáp như chạy đua.
Mình trở lại với những ngày đi xe buýt, im lặng chờ đợi, im lặng ngồi trên ghế nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi im lặng đi bộ về. Cuộc sống ở Canada, có lẽ ở cả các nước phương Tây khác, trật tự và đoán trước được đến từng phút. Như việc đi xe buýt chẳng hạn. Người ta luôn biết được một chuyến xe sẽ đến trạm lúc mấy giờ, đi từ bến này đến bến khác mất bao lâu, và chỉ muộn hoặc sớm năm phút cũng sẽ khiến nhiều người bị lỡ việc. Thời gian bị chẻ nhỏ ra. Con người không có kiểu vội vã gấp gáp ở các đô thị lớn, nhưng lúc nào cũng ý thức rất rõ về thời gian. Kể cả khi ngày dài đêm ngắn vào mùa hè, và đêm dài ngày ngắn vào mùa đông, người ta vẫn phải để ý kĩ bây giờ là mấy giờ.
Và mình cũng trở lại sự đơn độc, nhưng không đến nỗi quá khó chịu như ngày trước. Có thể vì mình đã lớn và đã quen với việc không cần bạn bè tíu tít, cũng có thể vì nhờ đã ở đây, nên cuộc sống nhanh chóng đi vào quỹ đạo của những thói quen, đến trường, về nhà, chứ không có nhiều khoảng trống do bỡ ngỡ. Thật ra ở một mình có cái hại, là ít tiếp xúc với người khác, dẫn đến hậu quả mà như một người bạn của mình nói "là mất phản xạ xã hội", nghĩa là những chuyện đơn giản ai cũng hiểu thì mình lại không nghĩ ra. Nhưng cũng có cái lợi, ví dụ như suy nghĩ được thông suốt hơn nhiều, có thời gian mà nghiền ngẫm. Mình cảm nhận những niềm vui nho nhỏ rõ nét hơn, như tiếng chim hót buổi sáng, hoặc một món ăn ngon mình nấu. Có thể nhiều người sẽ nghĩ là, vì không có gì vui nên mới vui nhỏ nhặt như thế. Cũng có thể, nhưng mình nghiêng về hướng đấy là hai kiểu vui khác nhau. Khi sống ở nhà, mình sẽ vui khi đi ra ngoài, ăn hàng, hoặc nghe được một buổi biểu diễn miễn phí hay. Ở đây thì thường là mình sẽ đi chợ, tự kì cạch tẩm ướp, và vì mình không bao giờ nấu theo công thức, nên trong khi nấu sẽ không biết trước hương vị thế nào. Kiểu đầu là thưởng thức cuộc sống, còn kiểu sau là trân trọng cuộc sống.
Nhưng không có cảm giác nhớ nhà. Mình thật sự chẳng nhớ gì cả, thỉnh thoảng có nghĩ đến một vài món ăn, cũng không đến nỗi thèm vật vã như ngày xưa. Nếu ai đó nói với mình vào tháng 9 năm 2007, khi mình mới đặt chân đến Canada, rằng sẽ có một lúc mình không thấy nhớ nhà, cũng không thấy gì cả, chắc mình sẽ rất nghi ngờ. Cũng không phải vì mình thích ở đây quá. Mình không ghét, nhưng cũng không yêu đương say đắm gì thành phố này. Nhiều đêm vẫn mơ hẹn bạn ở Hà Nội, rồi tỉnh dậy, nhìn quanh căn phòng và nhớ ra, mình không thể gặp bạn được. Mộng và thật cứ đan xen với nhau. Nhưng rồi cảm giác chới với khi mới tỉnh dậy đó cũng qua rất nhanh. Ừ thì không ở nhà, nhưng có vẻ điều đó cũng không khiến mình bận tâm nhiều nữa.
Sau 4 tháng, mình học được 2 lớp, làm trợ giảng 3 lớp, tham dự một số khóa tập huấn cho trợ giảng, các workshop dạy kĩ năng viết lách, mỗi tuần đi bơi 2 lần, học được một lớp ballroom dance, nhưng khá thất vọng vì hết khóa vẫn không khác gì lúc chưa học, hoàn thành được phần việc còn lại của mấy dự án mình làm trợ lý nghiên cứu còn dở, gặp được một số sinh viên và gia đình người Việt ở đây, biết được mấy tuyến xe buýt trong phạm vi đi bộ 20 phút từ nơi ở, đi được những địa điểm phục vụ nhu cầu tối thiểu như ngân hàng, siêu thị, bến xe, trung tâm thương mại. Và lại còn đi khám răng được hai lần để chuẩn bị đi nhổ răng khôn nữa.
Nhưng tất nhiên không phải mọi thứ đều suôn sẻ. Có một cảm giác rất khó chịu mình đã vượt qua, là sự lạc lõng giữa những người học cùng. Khoảng hai tháng đầu, có những lúc mình đã nghĩ đến chuyện nghỉ học, chuyển ngành, vì chán nản với kiểu lúc nào cũng xoáy vào các vấn đề của Canada và Mỹ, những cuộc thảo luận thì bạn cùng lớp (là những người vừa tốt nghiệp đại học lên thẳng thạc sĩ, chưa đi làm ngày nào) phun ra toàn những thuật ngữ cao siêu đọc méo cả mồm, mà những người đó bản thân chưa chắc đã hiểu. Mình không tham gia đóng góp được gì, và rất nản. Cứ như thế, đến một lúc mình nhận ra, thật ra việc những người học cùng không biết, không quan tâm, và không hứng thú với những điều mình biết về Việt Nam là chuyện bình thường. Bản thân mình có biết gì về các nước khác trong Đông Nam Á đâu, tại sao lại kì vọng họ phải biết về mình. Sau khi nhận ra chân lý đấy, mình thấy thoải mái hơn, và cũng bớt suy nghĩ hơn về những sự im lặng sau mỗi lần giơ tay. phát biểu.
Hôm trước tự dưng nghĩ, 25 tuổi mà chẳng phải đi làm, không lo chồng con, nói một cách thành thật thì được trả tiền để làm công việc mình vốn làm giỏi nhất (so với các việc khác) và thích làm nhất, là đọc và viết, quả là không có sung sướng nào bằng.
Ở xứ lạnh, bước chuyển thời gian thật rõ rệt. Cuối tuần ngày đầu xuân, ngồi trong phòng mình thấy dưới đường có hai đứa trẻ chơi cầu lông, bên hiên nhà đối dêện có hai ông bà già tóc bạc lơ phơ bắc ghế ra ngoài ngồi sưởi nắng. Giống như mùa xuân mang sự sống trở lại. Những con người suốt cả mùa đông không biết trốn ở đâu, đến khi trời ấm lên bắt đầu kéo nhau ra ngoài. Người chạy thể dục, người dắt chó đi dạo, người đạp xe, người xách túi đi chợ, tự nhiên nhìn quanh cảm giác mình đang ở một thành phố, chứ không phải một ốc đảo trắng toát như bốn tháng vừa qua. Rồi cỏ và hoa. Tuyết tan được vài ngày, nắng ấm và những trận mưa xuân rất ngắn cũng đủ làm cỏ lên xanh rì. Hôm qua đi học về đã thấy những bụi hoa đầu tiên. Lần nào ở đây mùa xuân mình cũng cảm thấy sự sống gấp gáp của vạn vật. Nếu không mọc lên nhanh, đơm hoa nhanh, rồi nhanh nhanh chóng chóng kết quả, rồi vùi những hạt mầm đó vào đất, hoặc để những chú sóc tích trữ hạt về tổ, thì chẳng mấy chốc mùa thu sẽ lại tới, cây sẽ rụng sạch lá và thế là hết. Bây giờ đã gần cuối tháng 4, cây cối vẫn khẳng khiu đâm lên trời, chưa ra lá non, vậy mà cuối tháng 8 lá đã bắt đầu rụng, cuộc sinh tồn ngắn ngủi gấp gáp như chạy đua.
Mình trở lại với những ngày đi xe buýt, im lặng chờ đợi, im lặng ngồi trên ghế nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi im lặng đi bộ về. Cuộc sống ở Canada, có lẽ ở cả các nước phương Tây khác, trật tự và đoán trước được đến từng phút. Như việc đi xe buýt chẳng hạn. Người ta luôn biết được một chuyến xe sẽ đến trạm lúc mấy giờ, đi từ bến này đến bến khác mất bao lâu, và chỉ muộn hoặc sớm năm phút cũng sẽ khiến nhiều người bị lỡ việc. Thời gian bị chẻ nhỏ ra. Con người không có kiểu vội vã gấp gáp ở các đô thị lớn, nhưng lúc nào cũng ý thức rất rõ về thời gian. Kể cả khi ngày dài đêm ngắn vào mùa hè, và đêm dài ngày ngắn vào mùa đông, người ta vẫn phải để ý kĩ bây giờ là mấy giờ.
Và mình cũng trở lại sự đơn độc, nhưng không đến nỗi quá khó chịu như ngày trước. Có thể vì mình đã lớn và đã quen với việc không cần bạn bè tíu tít, cũng có thể vì nhờ đã ở đây, nên cuộc sống nhanh chóng đi vào quỹ đạo của những thói quen, đến trường, về nhà, chứ không có nhiều khoảng trống do bỡ ngỡ. Thật ra ở một mình có cái hại, là ít tiếp xúc với người khác, dẫn đến hậu quả mà như một người bạn của mình nói "là mất phản xạ xã hội", nghĩa là những chuyện đơn giản ai cũng hiểu thì mình lại không nghĩ ra. Nhưng cũng có cái lợi, ví dụ như suy nghĩ được thông suốt hơn nhiều, có thời gian mà nghiền ngẫm. Mình cảm nhận những niềm vui nho nhỏ rõ nét hơn, như tiếng chim hót buổi sáng, hoặc một món ăn ngon mình nấu. Có thể nhiều người sẽ nghĩ là, vì không có gì vui nên mới vui nhỏ nhặt như thế. Cũng có thể, nhưng mình nghiêng về hướng đấy là hai kiểu vui khác nhau. Khi sống ở nhà, mình sẽ vui khi đi ra ngoài, ăn hàng, hoặc nghe được một buổi biểu diễn miễn phí hay. Ở đây thì thường là mình sẽ đi chợ, tự kì cạch tẩm ướp, và vì mình không bao giờ nấu theo công thức, nên trong khi nấu sẽ không biết trước hương vị thế nào. Kiểu đầu là thưởng thức cuộc sống, còn kiểu sau là trân trọng cuộc sống.
Nhưng không có cảm giác nhớ nhà. Mình thật sự chẳng nhớ gì cả, thỉnh thoảng có nghĩ đến một vài món ăn, cũng không đến nỗi thèm vật vã như ngày xưa. Nếu ai đó nói với mình vào tháng 9 năm 2007, khi mình mới đặt chân đến Canada, rằng sẽ có một lúc mình không thấy nhớ nhà, cũng không thấy gì cả, chắc mình sẽ rất nghi ngờ. Cũng không phải vì mình thích ở đây quá. Mình không ghét, nhưng cũng không yêu đương say đắm gì thành phố này. Nhiều đêm vẫn mơ hẹn bạn ở Hà Nội, rồi tỉnh dậy, nhìn quanh căn phòng và nhớ ra, mình không thể gặp bạn được. Mộng và thật cứ đan xen với nhau. Nhưng rồi cảm giác chới với khi mới tỉnh dậy đó cũng qua rất nhanh. Ừ thì không ở nhà, nhưng có vẻ điều đó cũng không khiến mình bận tâm nhiều nữa.
Sau 4 tháng, mình học được 2 lớp, làm trợ giảng 3 lớp, tham dự một số khóa tập huấn cho trợ giảng, các workshop dạy kĩ năng viết lách, mỗi tuần đi bơi 2 lần, học được một lớp ballroom dance, nhưng khá thất vọng vì hết khóa vẫn không khác gì lúc chưa học, hoàn thành được phần việc còn lại của mấy dự án mình làm trợ lý nghiên cứu còn dở, gặp được một số sinh viên và gia đình người Việt ở đây, biết được mấy tuyến xe buýt trong phạm vi đi bộ 20 phút từ nơi ở, đi được những địa điểm phục vụ nhu cầu tối thiểu như ngân hàng, siêu thị, bến xe, trung tâm thương mại. Và lại còn đi khám răng được hai lần để chuẩn bị đi nhổ răng khôn nữa.
Nhưng tất nhiên không phải mọi thứ đều suôn sẻ. Có một cảm giác rất khó chịu mình đã vượt qua, là sự lạc lõng giữa những người học cùng. Khoảng hai tháng đầu, có những lúc mình đã nghĩ đến chuyện nghỉ học, chuyển ngành, vì chán nản với kiểu lúc nào cũng xoáy vào các vấn đề của Canada và Mỹ, những cuộc thảo luận thì bạn cùng lớp (là những người vừa tốt nghiệp đại học lên thẳng thạc sĩ, chưa đi làm ngày nào) phun ra toàn những thuật ngữ cao siêu đọc méo cả mồm, mà những người đó bản thân chưa chắc đã hiểu. Mình không tham gia đóng góp được gì, và rất nản. Cứ như thế, đến một lúc mình nhận ra, thật ra việc những người học cùng không biết, không quan tâm, và không hứng thú với những điều mình biết về Việt Nam là chuyện bình thường. Bản thân mình có biết gì về các nước khác trong Đông Nam Á đâu, tại sao lại kì vọng họ phải biết về mình. Sau khi nhận ra chân lý đấy, mình thấy thoải mái hơn, và cũng bớt suy nghĩ hơn về những sự im lặng sau mỗi lần giơ tay. phát biểu.
Hôm trước tự dưng nghĩ, 25 tuổi mà chẳng phải đi làm, không lo chồng con, nói một cách thành thật thì được trả tiền để làm công việc mình vốn làm giỏi nhất (so với các việc khác) và thích làm nhất, là đọc và viết, quả là không có sung sướng nào bằng.